Đặt vấn đề Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ là loại hình tín ngưỡng dân gian phổ biến trong đời song tín ngưỡng của người Việt vùng đồng bang Bắc bộ. Trai qua những giai đoạn lich sử khác nhau, vị trí cũng như ảnh hưởng của loại hình tín ngưỡng này cũng được đánh giá khác nhau. Tháng 12 năm 2016, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã được UNESCO ghi danh trong Danh sách Di sản văn hoa Phi vật thé đại diện của nhân loại. Việc công nhận của UNESCO, một mặt góp phần quảng bá văn hoá truyền thống của Việt Nam ra quốc tế, mặt khác, đây cũng là một sự thừa nhận vi trí và vai trò của loại hình hình tín ngưỡng này trong đời sông tôn giáo, tín ngưỡng nói riêng, đời sông văn hoá nói chung của người VIỆt.
Sự kiện tháng 12/2016 đã là nguồn cô vũ lớn lao đối với những người thực hành tín ngưỡng thờ Mau, nhưng cũng là lý do được biện minh khi loại hình này nở rộ và phô biến đến nhiều lĩnh vực của đời sống văn hoá, xã hội ở Việt Nam. Trên thực tế, sự phổ biến này đã và đang hiện diện trong điện thờ, nghi lễ cũng như trong niềm tin của người có niềm tin vào tín ngưỡng thờ Mẫu, đặc biệt tại các điện thờ Mẫu tư gia. Điện thờ Mẫu tư gia nói chung, điện thờ Mẫu tư gia nói riêng không phải là hiện tượng mới xuất hiện gần đây, nhưng những công tình nghiên cứu chuyên sâu về hiện tượng này còn khá khiêm tốn. Có thé kế đến hai tác giả đã nghiên cứu về hiện tượng này: Tác giả Lê Thị Chiêng trong các công trình nghiên cứu về điện thờ tư gia ở Hà Nội như: “Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo nhìn từ một số điện thờ tư gia ở Hà Nội, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo số 5/2004, tr.
61-64; Điện thờ Tư gia: Một hình thức tín ngưỡng dân gian trong xã hội hiện đại (qua khảo sát tai Ha Noi), Tap chí nghiên cứu Tôn giáo số 11/2008, tr. 59-64; Tim hiểu các điện thờ tr gia ở Hà Noi, Luận án Tiến sĩ, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, 2010. Theo tác giả, “điện thờ tư gia là một loại hình tín ngưỡng tôn giáo do cá nhân lập ra và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một dòng tộc. Sự kế thừa ở đây không phải cha truyền con nối theo dòng trưởng như thông thường mà chỉ truyền cho người có “căn duyên” (nghĩa là chỉ người có mệnh số định trước phải trông coi việc thờ cúng mới được truyền) '.
Các điện thờ này hiện hữu trong một phần trang trọng của căn nha nơi mọi người cùng nhau sinh sống. Cũng theo tác giả, điện thờ tư gia phổ biến nhất hiện nay được lập từ những năm 80 của thé kỉ trước. Cũng có trường hợp các ngôi đèn, đình vốn thuộc về cộng đồng được biến thành điện thờ tư nhân khi chúng bị bỏ hoang và được tư nhân bỏ tiền của ra tu tạo lại. Loại điện thờ này không thuộc sở hữu tư nhân nhưng do cá nhân trông giữ nên việc sử dụng không khác điện thờ tu gia.” Tác giả khác là Nguyễn Thị Diễm Hương với luận văn Thạc sĩ lịch sử “Hoạt động của các Điện thờ Mẫu tư nhân trên địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc” tại trường Đại học KHXH&NV, DH QGHN, 2018 thì cho rang “Điện thờ tu nhân là noi tho tự trong gia đình nhưng không phải là ban thờ tự gia tiên như thường thấy trong mối gia đình.
Đây là điện thờ riêng niệt được lập ra do nhu cầu của một thành viên nào đó được gọi là có căn số trong gia đình. Hoặc cũng có thé được thừa kế lai*. Điện Mẫu tư nhân là các điện thờ Mẫu được lập tại nhà các chủ điện, thường có quy mô nhỏ. Việc lập điện thờ thánh, thờ Mẫu hay lập điện thờ tứ phủ thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như căn duyên của thanh đồng với nhà thánh lòng mộ đạo của thanh đồng xuất tâm muốn thờ phụng cũng như điều kiện thờ phụng và hoàn cảnh của thanh đồng.
Khi muốn lập điện, các thanh đồng cần lưu ý một số điều cơ bản để việc thờ cúng được đầy đủ chu toàn không chi là nhất thời." Tác giả cũng có một số đồng ý với Lê Thị Chiêng khi nhận định điện thờ tư nhân đã tồn tại trong đời sông tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt trước đây, nhưng khoảng 30 năm ! Lê Thị Chiêng (2004), Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo nhìn từ một số điện thờ tư gia ở Hà Nội, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, sỐ 5, tr. 62 ? Lê Thị Chiêng (2004), tr. 62 * Nguyễn Thị Diễm Hương (2018), tr. ) 4 Nguyễn Thị Diễm Hương (2018), “Hoat động của các Điện thờ Mẫu tư nhân trên địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh Vinh Phúc” tại tường Dai học KHXH&NV, DH QGHN, luận văn Thạc si lịch sử tr.
30-32 > Nguyễn Thị Diễm Hương (2018), tr. 19 trở lại đây, ở khu vực đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt các tỉnh Hà Nội, Hải phòng, Nam Định, Thái Binh, Vĩnh Phúc. số điện thờ phát triển khá nhanh”. Nhìn chung, cả tác giả Lê Thị Chiêng và Nguyễn Thị Diễm Hương đều nhìn nhận sự phát triển mạnh mẽ của điện thờ tư gia trên dia bàn Hà Nội va Vĩnh phúc trong khoảng 30 năm trở lại đây.
Tuy nhiên, cả hai tác giả đều chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về điện thờ Mẫu tư gia ở Hà Nội, tác giả Diễm Hương chỉ nghiên cứu trên địa bàn Vĩnh Phúc, Lê Thị Chiêng thì dừng lại ở điện thờ tư gia nói chung.’ Trên thực tế, trong những năm gần đây, đặc biệt sau sự kiện tháng 12 năm 2016 và sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, các hoạt động tín ngưỡng nói chung, tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng trên địa bàn Hà Nội diễn ra một cách sôi động và ngày càng có xu hướng chuyên dịch không gian về các điện thờ Mẫu tư nhân bên cạnh những không gian truyền thống trước đó. Trong sự dịch chuyên đó, sự xuất hiện một cách phổ biến của ban thờ Phật trong các điện thờ Mẫu tư gia cũng đã phần nào thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, nhưng bên cạnh đó, cũng để lại nhiều tranh luận trong bản thân một số nhà tu hành Phật giáo cùng các nhà quản lý về mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Tứ phủ hiện nay. Tắt nhiên, mối quan hệ này không phải mới xuất hiện mà đã có từ rất sớm trong lịch sử, nhưng xuất hiện trong điện thờ tư gia thì chỉ gần đây mới thực sự phô biên và phát triên mạnh mẽ. Vi vậy, việc nghiên cứu về điện thờ Mẫu tư gia nói chung, sự ảnh hưởng của Phật giáo đến điện thờ Mẫu tư gia hiện nay sẽ cung cấp thêm tư liệu khoa học để nhận diện bản chất của hiện tượng này, từ đó giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng có những định hướng chính sách phù hợp.
Mục tiêu Mục tiêu của nghiên cứu nhằm chi ra thực trạng hệ thong các điện thờ Mau tu gia trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay; làm rõ sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu (thé hiện ở cách bài tri, cấu trúc điện thờ, niềm tin, nghi lễ) trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay. Đồng thời lý giải nguyên nhân và những những giá trị, hạn chế của quá trình ảnh hưởng của Phật giáo tới tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hà Nội hiện nay. Từ đó, đề xuất 5 Nguyễn Thị Diễm Hương (2018), tr. 35-36 7 Trong phân loại của tác giả thì điện thờ Mẫu tư gia là một loại hình biểu hiện của điện thờ tư gia ở Hà Nội.
Trong số các điện thờ mà tác giả khảo cứu thì số lượng điện thờ Mẫu chiếm phần lớn, chiếm 25/57 điện. Ngoài ra, 3/57 là điện thờ tổng hợp (tính trội là Mẫu); 8/57 là điện thờ hỗn dung Phật, Mẫu; 2/57 là điện thờ Đức Thánh Trần, Mẫu (Lê Thị Chiéng (2008), Điện thờ tư gia, một hình thức tín ngưỡng dân gian trong xã hội hiện đại (qua khảo sát tại Hà Nội), Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 11, tr. 59) được một số kiến nghị, giải pháp về quản lý hoạt động tôn giáo và phát huy giá trị của tôn giáo trong bối cảnh hiện nay 3. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thống kê Đề tài sử dụng phương pháp thống kê trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu về thực trạng điện thờ Mẫu tư gia trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay (qua khảo sát một sỐ quận nội thành) cũng như sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với các điện thờ Mẫu tư gia này.
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan đến sự ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam đến tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã được các nhà nghiên cứu công bố. Trên cơ sở đó, kế thừa và tiếp thu cho nội dung khoa học của mình. Phương pháp so sảnh Việc sử dụng phương pháp so sánh sẽ giúp cho người nghiên cứu có thê chỉ ra sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và ở các điện thờ Mẫu tư gia ở thành phố Hà Nội nói riêng trên các phương diện niềm tin, nghi lễ, bài trí điện thờ trong lịch sử cũng như ở hiện tại. Phương pháp điển dã Việc sử dụng phương pháp điền dã (tham dự, quan sát, phỏng vấn sâu) sẽ giúp cho người nghiên cứu có thê trực tiếp cảm nhận, thu thập thông tin liên quan đến nội dung khoa học của dé tài trong sự so sánh và kết hợp với các phương pháp khác.
Đặc biệt trong các nghi lễ hầu đồng tại điện thờ tư gia trên địa bàn các quận nội thành thành phố Hà Nội Nghiên cứu này được thực hiện băng phương pháp phỏng vấn sâu với 16 trường hợp trên địa bàn 7 quận nội thành (Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Hoàng Mai, Cau Giấy, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Hà Đông) và 2 huyện ngoại thành (Ba Vì, và Sóc Sơn) trong đó 14 người là thanh đồng và 01 nhà sư cũng đã từng là thanh đồng trước khi xuất gia theo Phật giáo. Trong số 15 thanh đồng tham gia nghiên cứu này, có 13 thanh đồng là chủ điện thờ Mẫu tư nhân, 02 trường hợp là thanh đồng nhưng không mở điện tại gia. ˆ Theo lời nhà sư, trước khi xuất gia theo Phật giáo, ông đã theo thờ Mẫu và là thanh đồng. Hiện nay, ông van tiền hành nghi lề hau dong ở Gian thờ Mau trong chùa, trung bình khoảng 1- 2 vân/năm.