ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Tính cấp thiết của đề tài Cây chè (Camellia sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp có chu kỳ kinh tế dài, hiệu quả kinh tế cao và ổn định. Diện tích chè Việt Nam hiện nay đạt 131000 ha trong đó sản xuất chè kinh doanh 110000 ha, năng suất đạt bình quân đạt 7,15 tấn búp tươi/ha. Tuy nhiên đa số đất trồng chè chỉ có trồng canh tác 50 – 70 cm, hiếm khi trên 1 mét. Lượng mưa tập trung theo mùa làm cho đất bị rủa trôi, xói mòn trong mùa mưa.
Còn mùa mưa thì hạn hán trầm trọng, thậm chí ngay vào thời điểm mùa mưa cây chè vẫn bị hạn do đất dốc không giữ được nước. Một yếu tố quan trọng bậc nhất trong thâm canh để phát huy tiềm năng giống và chất lượng sản phẩm là sử dụng phân bón hợp lý. Giai đoạn 1990 – 2010 đá có một số nghiên cứu về phân bón cho chè, song tập trung vào phân bón vô cơ. Liều lượng và tỉ lệ dinh dưỡng cho chè phụ thuộc rất nhiều vào giống, đất đai và điều kiện tự nhiên.
Đồng thời sử dụng phân bón cũng không được để lại hàm lượng nitrat qúa cao, hàm lượng kim loại nặng phải dưới ngưỡng cho phép… Từ năm 2005 đến nay cùng với những nghiên cứu về phân bón hoá học, nghiên cứu sử dụng phân bón lá được quan tâm và nâng cao hơn. Phân bón qua lá không những là nguồn cung cấp axit amin, nó còn cung cấp bổ sung các chất dinh dưỡng để đáp ứng yêu cầu cân bằng dinh dưỡng của cây trồng theo từng thời kỳ sinh trưởng. Bằng cách cung cấp phân bón qua lá, hiệu quả sử dụng phân bón có thể tăng từ 8 - 20 lần so với bón phân qua gốc, ngoài ra cung cấp phân qua lá còn là biện pháp trợ giúp cây trồng chống lại sự thay đổi và điều kiện khắc nghiệt của thời tiết. Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu và sử dụng phân bón qua lá cho các loại cây trồng khác nhau.
Phân bón lá đã xuất hiện rất nhiều chủng loại trên thị trường, n 9 mặc dù vậy tại nhiều nơi người dân vẫn chưa có thói quen sử dụng sử dụng phân bón lá trong sản xuất chè. Để có thể tìm ra được loại phân bón lá phù hợp nhất, bón bổ sung dinh dưỡng cho cây chè, đáp ứng yêu cầu sản xuất, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sự sinh trưởng và năng suất và chất lượng chè Trung Du tại trường Đại học Nông Lâm năm 2014” 1. Mục đích nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá, so sánh được ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất và chất lượng chè Trung Du tại trường Đại học Nông Lâm năm 2013 1. Yêu cầu của đề tài - Xác định sự ảnh hưởng của việc bón các loại phân bón lá tới sự sinh trưởng, phát triển giống chè Trung Du PH1.
- Xác định ảnh hưởng của việc bón các loại phân bón lá tới năng suất giống chè Trung Du PH1 tại trường Đại học Nông Lâm năm 2013. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong công việc để đạt được hiệu quả cao trong quá trình làm việc. Đồng thời, là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực tiễn. - Có kết luận chính xác về loại phân bón lá thích hợp cho giống chè Trung Du tại Trường Đại học Nông Lâm thái nguyên.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đề tài thực hiện là cơ sở để từ đó có những định hướng cho việc sử dụng các loại phân bón lá cho cây chè vào thực tiễn sản xuất. Từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và nâng cao năng suất cho cây chè tại Trường Nông Lâm nói riêng và vùng chè Thái Nguyên nói chung. n 10 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Cơ sở khoa học Bón phân qua lá có một vai trò ngày càng gia tăng trong dinh dưỡng cây trồng và đã được nông dân áp dụng từ nhiều năm nay khắp nơi trên thế giới, mặc dù thông tin về lĩnh vực này trên các tài liệu khoa học còn hạn chế.
Chỉ tới thời gian gần đây, các nhà khoa học mới chú tâm tới và điều này đã được chứng kiến bởi hàng trăm chuyên gia tham dự một hội nghị quốc tế chuyên đề về bón phân qua lá [2]. Bón phân qua lá là kỹ thuật cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng qua lá. Kỹ thuật này được phát hiện từ những người làm vườn ở Châu Âu từ thế kỷ thứ 17 và phải hơn 1 thế kỷ sau nó mới trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học. Nhưng chỉ những năm gần đây, khi các phương pháp đánh giá quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng qua lá phát triển thì công việc nghiên cứu và ứng dụng bón phân qua lá mới được phát triển mạnh.
Hiện nay, các nghiên cứu và ứng dụng về các loại phân lỏng và vai trò của bón phân qua lá đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ. Cung cấp (phổ biến là bằng cách phun) chất dinh dưỡng trong phân bón qua lá được sử dụng để bổ sung các chất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Bằng cách cung cấp phân bón qua lá, hiệu quả sử dụng phân bón có thể tăng từ 8 - 20 lần so với bón phân qua gốc, ngoài ra cung cấp phân qua lá còn là biện pháp trợ giúp cây trồng chống lại sự thay đổi và điều kiện khắc nghiệt của thời tiết [2]. Trong xu hướng phát triển mới, nền nông nghiệp dựa chủ yếu bằng phân bón vô cơ sẽ được thay thế dần bằng nền nông nghiệp bền vững, ở đó phân bón được sử dụng có hiệu quả hơn nhiều, không để các chất dinh dưỡng dư n 11 thừa gây lãng phí và gây ô nhiễm môi trường, sử dụng phân bón hữu cơ, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật độc hại tới môi trường và con người, tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp.
Xu hướng phát triển này đã trở thành yêu cầu và động lực cho sự phát triển các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất tăng trưởng hữu cơ cũng như các phương pháp sử dụng phân bón mới có hiệu quả [2]. Hiện nay, việc sử dụng phân bón vô cơ nhằm thu búp nhanh của người trồng chè đang được áp dụng ở nhiều nơi, các kỹ thuật mới về việc bón cân đối phân vô cơ và bổ sung hợp lý phân hữu cơ kết hợp phân bón đa lượng chưa được áp dụng. Thêm vào đó là việc lạm dụng quá nhiều các loại thuốc kích thích phun qua lá trước khi thu hái khoảng 3 - 5 ngày của người trồng chè để có được sản lượng. Việc bón phân qua lá có rất nhiều tác dụng, đặc biệt là cung cấp vi đạm cho cây trồng và làm mát lá, kích thích sự phát triển.
Giống chè Trung Du PH1có sức sinh trưởng khá, chống chịu sâu bệnh khá, chống hạn trung bình, thích hợp cho chế biến chè xanh,chè trung du thường có vị rất đậm đà,vị ngọt đậm, hương trà lưu để lâu. Yêu cầu trồng ở những vùng có điều kiện thâm canh phân hữu cơ, che tủ và có tưới tiêu. Thích ứng vùng thấp ở các tỉnh phía Bắc [18]. Với mục đích bổ sung phân bón qua lá để vừa nâng cao năng suất, chất lượng, vừa tạo sản phẩm an toàn là vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay.
Từ đó sẽ tăng được hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè hiện nay tại vùng sản xuất chè Thái Nguyên.2 Nguồn gốc cây chè Nghiên cứu về nguồn gốc của cây chè là một vấn đề phức tạp, cho đến nay còn rất nhiều quan điểm chưa được thống nhất, dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học. Trong số đó, một số quan điểm đáng tin cậy và được nhiều người công nhận nhất là: n 12 - Cây chè có nguồn gốc ở Vân Nam - Trung Quốc : Theo Daraselia (1989) từ những nghiên cứu về cây chè, các giải thích về sự phân bố cây chè mẹ ở Trung Quốc của các nhà khoa học Trung Quốc, dựa theo học thuyết ‘‘trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop ông kết luận rằng: Cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc, nó phân bố ở phía đông, phía nam, phía đông Nam men theo cao nguyên Tây Tạng [5]. - Cây chè có nguồn gốc ở vùng Assam (Ấn Độ) : Năm 1823 R. Bruce đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở vùng Assam (Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng: Nguyên sản của cây chè là ở vùng Assam chứ không phải là ở Vân Nam - Trung quốc [5].
- Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam : Những công trình nghiên cứu của Djemukhatze (1961 - 1976) về những biến đổi sinh hóa của phức catechin trong lá cây chè dại và cây chè được trồng trọt, chăm sóc đã cho kết luận: “Nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam” [5]. Những quan điểm nêu trên đều có những cơ sở khoa học riêng, điều này đi đến những kết luận khác nhau nhưng có sự thống nhất nguồn gốc của cây chè: Nguyên sản của cây chè là ở châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm (Lê Tất Khương và cs, 1999) 2. Cơ sở khoa học của việc phân loại cây chè Để tiến hành phân loại cây chè người ta căn cứ vào rất nhiều đặc tính đặc điểm của cây chè nhưng thường căn cứ vào 3 hướng chủ yếu là: - Dựa vào cơ quan sinh dưỡng: Cây thân gỗ hay cây thân bụi, hình dạng tán lá, số đôi gân chính, răng của mép lá, hình dạng màu lá. - Dựa vào cơ quan sinh thực: Độ lớn của tràng hoa, độ rộng của tràng hoa, số tràng hoa, đài hoa, nhụy hoa, số lượng quả,… n 13 - Dựa vào đặc tính sinh hoá: Chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin biến động trong phạm vi nhất định (giáo trình cây chè: Lê TấtKhương - Hoàng Văn Chung - Nxb Nông Nghiệp) 2.
Phân loại Dựa vào những nghiên cứu khoa học đã kết luận: Cây chè nằm trong hệ thống thực vật.