Đặt vấn đề Từ trước đến nay ngành chăn nuôi gà mang ý nghĩa quan trọng trong cơ cấu kinh tế của ngành nông nghiệp. Ngành chăn nuôi gà đã đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt cho người chăn nuôi, đã có nghiều người giàu lên nhờ chăn nuôi gà (ngành chăn nuôi gà đã góp một phần vào giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân,….), ngành chăn nuôi gà của nước ta hiện nay không chỉ cung cấp đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu đã đem lại một nguồn thu ngoại tệ cho lớn cho nền kinh tế nước ta. Qua số liệu năm 2014 nước ta có 240triệu con gà với sản lượng gần 70 triệu tấn với doanh thu đạt 200 triệu USD. Theo thống kê của Tổ chức lương thực thế giới (FAO), Việt Nam là một nước nuôi nhiều gà, đứng hàng thứ 13 thế giới và vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
Hiện nay ngành chăn nuôi gà đảm bảo cung cấp trên 80% sản phẩm thịt cho thế giới. Với nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì ngành nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí quan trong trong lền kinh tế nước ta hiện nay. Trong nhưng năm gần đây với mục tiêu thực hiện công nghiệp - hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo chủ trương của Đảng và Nhà Nước, ngành chăn nuôi đã có được sự đầu tư về khao học kỹ thuật, vốn, đưa giống mới có năng suất, chất lượng hiệu quả cao vào sản xuất góp phần vào thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn. Với những chính sách thuận lợi và phù hợp của nhà nước, nên ngành chăn nuôi gà đã và đang phát triển mạnh mẽ với rất nhiều trại nuôi gà với nhiều quy mô.
Đứng trước nhu cầu về con giống của nhân dân, nước ta đã cho nhập hàng loạt giống gà lông màu như: Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, Ai Cập,Ross… Trong đó có giống gà Ross - 508 cũng đang được phát triển với nhiều quy mô trang trại lớn. Đây là giống gà có đặc điểm dễ nuôi, nhanh lớn, ít bệnh tật năng suất cao, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu Việt Nam, song chất lượng thịt chưa được ưa chuộng vì lớp mỡ dưới e 2 da nhiều. Tuy nhiên, giống gà này vẫn được nhân dân ta quý trọng và ngày càng phát triển. Để nâng cao hơn về hiệu quả kinh tế mà giống gà này đem lại em đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến sức sản xuất thịt và hiệu quả kinh tế của gà Ross - 508 nuôi chuồng kín tại huyện Đồng Hỷ –tỉnh Thái Nguyên’’ 1.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài + Xác định được ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sản xuất thịt của gà Ross - 508 nuôi tại huyện Đồng Hỷ, thành Phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. + Bản thân làm quen với công tác nghiên cứu khoa học về chăn nuôi gia cầm. - Góp phần thúc đẩy chăn nuôi gia cầm trong nông hộ phát triển bền vững - Nhằm tìm hiểu và đưa ra một đối tượng gia cầm mới chăn nuôi tại huyện Đồng Hỷ, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Từng bước hoàn thiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng để phát huy hết tiềm năng của con giống, góp phần hoàn thiện quy trình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học. - Có thêm luận cứ khoa học về khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà Ross – 508 nuôi tại Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Đánh giá được khả năng sản xuất thịt của gà Ross - 508 thương phẩm, nuôi trong chuồng kín ở các vụ khác nhau để từ đó khuyến cáo cho người chăn nuôi về mùa vụ thích hợp trong sản xuất đại trà.
- Bản thân là sinh viên được làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2. Sức sống và khả năng chống đỡ bệnh của gia cầm Sức sống của gia cầm là một tính trạng số lượng, nó đặc trưng cho từng giống, từng dòng, từng cá thể.
Trong cùng một giống sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau trong cùng một dòng cũng có sự khác nhau, nhưng nằm trong giới hạn nhất định của phần giống. Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh, khả năng thích nghi với điều kiện môi trường. Người ta thông qua tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn thí nghiệm. Tỷ lệ sống của gà con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của gia cầm, ở giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng (Brandsch và Bilchel, 1978) [1].
Tỷ lệ sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống ở một giai đoạn, so với các cá thể ở giai đoạn trước. Sự giảm sức sống ở giai đoa hậu phôi có thể do sự có mặt của các gen nửa gây chết, nhưng phần lớn là do tác động của môi trường (Brandsch và Bilchel, 1978) [1]. Có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng biện pháp nuôi dưỡng tốt, vệ sinh tiêm phòng kịp thời. Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn vật nuôi ở xứ lạnh.
Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm non trong điều kiện bình thường đạt khoảng 90%, nhưng cũng có những dòng gà có tỷ lệ nuôi sống lên tới 98 – 99%. Theo kết quả nghiên cứu của (Bùi Quang Tiến và cộng sự, 2005) [28] cho biết tỷ lệ nuôi sống từ 0 – 140 ngày tuổi của các dòng gà chuyên thịt HE – Ross 308 đạt từ 95 – 98%. e 4 Ngoài các yếu tố giống, thức ăn, kỹ thuật, chăm sóc, thì sức sống và khả năng sinh trưởng và phát triển của gia cầm chịu tác động trực tiếp của các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ, sự thông thoáng và chiếu sáng. Những yếu tố này tác động gây ảnh hưởng xấu đến sức đề kháng của cơ thể, dễ gây hiện tượng stress làm giảm sức sống gia cầm.
Trong điều kiện tự nhiên nước ta, các yếu tố này tác động lần lượt ở mức độ khác nhau tại những vùng địa lý khác nhau. Do vậy để có sức sống cao đòi hỏi gia cầm phải có sự thích nghi với điều kiện sống. Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm (Ngô Giản Luyện, 1994) [16] cho biết sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hết ở khả năng có tính di truyền của động vật, có thể chống lại các ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như các ảnh hưởng khác của dịch bệnh. Xét về khả năng thích nghi, khi điều kiện sống thay đổi, như về thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh.
của gia súc, gia cầm nói chung, gà lông mầu nói riêng có khả năng thích nghi rộng rãi hơn đối vớ môi trường sống (Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, 1998) [23]. Ngày nay, ngoài việc tiếp tục chọn lọc các cá thể, các dòng có sức miễn kháng cao, người ta còn chú trọng đến nghiên cứu theo dõi các tập tính bẩm sinh của con vật về sinh sản, sinh trưởng, kiếm ăn. để cải tiến cách chăm sóc, nuôi dưỡng, khai thác con vật, đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng tôt hơn. Điều đó cũng thể hiện qua các quy trình chăn nuôi, theo cách làm sạch môi trường trang trại và xung quanh, theo các nội quy đảm bảo an toàn khi nhập, khi nuôi cũng như khi xuất.
Đó đều là những điều làm cần thiết bổ trợ thêm tính miễn kháng cho vật nuôi, ngăn ngừa được những stress mang hậu quả có hại cho vật nuôi và cho chất lượng sản phẩm tạo thêm được điều kiện để tăng cường độ miễn kháng. e 5 Ngoài các yếu tố như dinh dưỡng, giống, kỹ thuật thì vấn đề nhiễm bệnh của gia cầm cũng là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi. Gia cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt là bệnh truyền nhiễm. Trong công tác lai tạo, khi dùng những dòng, giống có sức đề kháng cao thì con lai sẽ thừa hưởng có tính trạng trội khả năng này.
Nghiên cứu về vấn đề này cho biết ưu thế lai về sức sống là rất cao, dao động từ 9 – 14%, sức sống cao phụ thuộc vào yếu tố mầm bệnh hoặc các dạng vi sinh vật gây bệnh khác. Tỷ lệ nuôi sống không chỉ phụ thuộc vào yếu tố di truyền, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tình hình bệnh tật,. mà còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường. Khái niệm sinh trưởng và phương pháp đánh giá sinh trưởng 2.
Khái niệm sinh trưởng Về mặt sinh học, sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng. Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất định. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [19] cho biết: Midedorpho A. F (1867) là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi.
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành. Để có được số đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng (Chambers J. e 6 Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [19] đã khái quát: “Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”. Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền.