Đặt vấn đề Đảng và nhà nước ta đang có nhiều chủ chương, chính sách chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người nông dân, nhằm tăng năng suất cây trồng, tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập. Để làm được điều đó cần phải có chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay thế giống có năng suất thấp bằng giống có năng suất cao, đa dạng hóa cây trồng nhằm bảo đảm về vấn đề an ninh lương thực và phát triển bền vững, đặc biệt là vùng nông thôn. Việc chọn lựa giống cây trồng đang là vấn đề cấp thiết đặt ra cho những nhà khoa học. Cây khoai tây (Solanum Tuberosum.L) là cây lương thực ở nhiều nước châu Âu và ở một số nước khoai tây còn là cây lương thực chủ yếu (Đường Hồng Dật, 2005)[8].Cây khoai tây là một trong những cây trồng quen thuộc , vừa là cây lương thực, đồng thời là cây thực phẩm có giá trị được trồng ở nhiều nước trên thế giới (Hồ Hữu An và cs, 2005)[3].
Các nhà dinh dưỡng đã phân tích giá trị thực phẩm của khoai tây, cho thấy thành phần của nó khá cân đối về các chất cần thiết cho nhu cầu “ăn đủ chất” của con người. Hiện nay, cây khoai tây được xếp vào hàng thứ 4 trong số những cây lương thực quan trọng nhất của thế giới và được trồng ở 148 nước kéo dài từ 710 vĩ tuyến Bắc đến 400 vĩ tuyến Nam. Theo số liệu của Tổ chức Nông lương của Liên Hợp quốc năm 2016 (Food and Agriculture Organization, FAO) diện tích khoai tây trên thế giới là 19,2 triệu ha với tổng sản lượng 385,8 triệu tấn. Trong đó, diện tích khoai tây châu Âu chiếm 29,1% và sản lượng chiếm 31,9%, diện tích châu Á chiếm 51,9% và sản lượng chiếm 48,8% (FAOSTAT, 2016)[23].
n 2 Thời gian sinh trưởng ngắn nhưng khoai tây lại là cây cho hiệu quả kinh tế cao, 1 ha có thể thu nhập từ 30 - 40 triệu đồng. Theo Nguyễn Công Chức ( 2001)[7], khoai tây đóng góp từ 42 - 48% thu nhập từ trồng trọt, 4,5 - 22,5% trong tổng thu nhập của hộ trồng khoai. Ở Việt Nam, khoai tây được đưa vào trồng từ những năm 1890 do người Pháp mang đến. Cho đến nay, khoai tây vẫn là cây trồng quan trọng trong cơ cấu cây trồng vụ đông.
Khoai tây là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, đặc biệt lại thích hợp trong điều kiện vụ đông ở các tỉnh phía Bắc và có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, có tiềm năng năng suất và có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất khoai tây vẫn chưa được phát triển đúng tiềm năng của nó cả về sản lượng và chất lượng. Nguyên nhân năng suất khoai tây còn thấp là do thiếu giống (nguồn giống ít đa dạng, chủ yếu là nhập nội), chưa có bộ giống tốt vàkỹ thuật canh tác, chăm sóc. Bên cạnh đó chưa có quy trình kỹ thuật bón phân phù hợp cho cây khoai tây, do đó mà hiệu quả kinh tế mang lại còn rất thấp và ẩn chứa nhiều rủi ro.Vì thế, sản xuất khoai tây ở nước ta vẫn chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khoai tây trong nước (Đỗ Kim Chung, 2003)[6].
Vấn đề đặt ra là phải tác động quy trình kỹ thuật bón phân hợp lý đồng thời tuyển chọn được những giống khoai tây năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh, và kỹ thuật canh tác tốt phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng sẽ là những yếu tố quan trọng để tạo ra những bước đột phá mới cho ngành trồng khoai tây. Giống Solara là giống khoai tây đã được thử nghiệm ở nhiều vùng ở nước ta, thể hiện là giống thích nghi với điều kiện vụ Đông và cho năng suất khá cao. Tuy nhiên trên thực tế việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cho giống khoai tây này vẫn chỉ là quy trình chung cho hầu khắp các vùng sinh thái, nên năng suất nhìn chung chưa tương xứng với tiềm năng của giống. n 3 Trong những năm gần đây diện tích khoai tây cả nước dao động trong khoảng 35.000 ha, tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng (Đào Huy Chiên, 2002)[4].
Do những ưu điểm của cây trồng này, Nhà nước có chủ trương mở rộng diện tích ra các vùng sinh thái phù hợp. Tuy nhiên, do quỹ đất canh tác nông nghiệp ở đồng bằng thấp, cùng với sức ép của việc đô thị hoá và công nghiệp hoá nên việc mở rộng diện tích khoai tây ở đồng bằng có nhiều hạn chế.Để giải quyết vấn đề đó, việc khai thác hợp lý nguồn tài nguyên đất đaitrong đó có mở rộng diện tích khoai tây được coi là hướng phát triển chiến lược và bền vững trong tương lai. Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc thuộc vùng Đông Bắc nước ta với diện tích đất tự nhiên hơn 3562,82 km2 và dân số khoảng 1,2 triệu người (Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2016)[2]. Thái Nguyên không chỉ là một tỉnh có thế mạnh về phát triển công nghiệp mà còn là tỉnh có nền Nông nghiệp khá vững chắc.Tỉnh rất chú trọng việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp nâng cao năng suất, sản lượng lương thực thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế.
Những năm trở lại đây nhờ thực hiện chiến lược “cánh đồng 50 triệu đồng/ha”, cây khoai tây đã được quan tâm và đầu tư phát triển, người dân xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên đã đưa cây khoai tây làm cây trồng vụ Đông trong cơ cấu sản xuất nhưng năng suất và phẩm chất khoai tây còn thấp. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng năng suất thấp và chất lượng khoai tây kém trong đócó thể do bón phân cho khoai tây chưa đúng lúc, bón thừa đạm, chưa đủ lượng kali hay quá thừa lân. Vì phân bón là một trong những yếu tố quan trọng nhất tăng năng suất mùa vụ trong đó có kali, kali là một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng cần thiết cho cây lấy củ nói chung, cây khoai tây nói riêng. Khoai tây có yêu cầu cao đối với các chất dinh dưỡng.
Trung bình 1 tấn củ khoai tây lấy đi từ đất 5,86 kg N + 1,11kg P2O5 + 8,92 kg K2O, với năng suất 15 tấn/ha cây khoai tây lấy n 4 đi từ đất 88 kg N + 17 kg P2O5+ 134 kg K2O.Điều này cho thấy khoai tây trồng trên các vùng đất khác nhau đòi hỏi liều lượng kali không giống nhau do vậy việc thực hiện đề tài nhằm tìm ra liều lượng kali thích hợp để khoai tây sinh trưởng tốt và cho năng suất cao. Xuất phát từ thực tế và nhu cầu cấp bách của sản xuất chúng tôi nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng kali đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai tây Solara vụ Đông năm 2016tại xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu - Xác định được liều lượng bón kali thích hợp cho quá trình sinh trưởng, phát triển và đạt năng suất cao của giống khoai tây Solara trong điều kiện vụ Đông năm 2016 tại xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiến của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học của đề tài - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc lựa chọn liều lượng kali thích hợp cho khoai tây Solara vụ Đông tại Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Góp phần thay đổi công thức canh tác truyền thống trong sản xuất cây trồng vụ Đông, thúc đẩy mở rộng diện tích cây khoai tây để nâng cao năng suất, hệ số sử dụng đất cũng như tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo cho tỉnh Thái Nguyên. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã kéo theo sự phát triển của các vùng sản xuất.
Mục đích là sản xuất hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường ngày càng lớn, cần phải có những biện pháp hữu hiệu như đưa ra các giống cây trồng mới có nhiều ưu thế và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Khoai tây được xem là cây xoá đói cho những vùng khó khăn, là cây sinh lợi hơn cả so với các cây trồng khác (Vander Zaag, 1976)[36]. Cây khoai tây vẫn là cây cho thu nhập cao hơn 1,7 đến 3,8 lần so với khoai lang và ngô (Nguyễn Công Chức, 2001)[7]. Để cây trồng phát huy được hết tiềm năng thì cần được trồng trong những điều kiện tối ưu nhất về nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, phân bón… Trong đó phân bón là một trong những yếu tố quan trọng bởi vìphân bón cung cấp các nguyên tố cần thiết cho mọi hoạt động sống, sinh trưởng và tạo nên năng suất, chất lượng sản phẩm cho cây trồng nói chung và cây khoai tây nói riêng.Sử dụng phân bón hợp lý là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất khoai tây.Trong đó kali có tác dụng làm tăng sức hấp thu thức ăn, giúp cây sinh trưởng nhanh, cây to khỏe, tăng khả năng chịu hạn và tăng khả năng đề kháng cho cây.
Ngoài ra không những luôn làm tăng năng suất mà kali còn ảnh hưởng tới chất lượng củ, hàm lượng chất khô, đến bảo quản trong kho và sự biến màu của miếng khoai sau khi chế biến, nấu. n 6 - Kali trong đất Hàm lượng kali trong đất Việt Nam biến động trong khoảng 0,5-3%. Hàm lượngkali trong đất Việt Nam cao hơn nhiều so với các yếu tố dinh dưỡng đa lượng khác và phụ thuộc vào: Thành phần đá mẹ, thành phần cơ 7 giới đất và điều kiện hình thành. Đất hình thành từ đá mẹ giàu kali (fenpat, mica trắng, đen) thường có nhiều kali hơn; đất bị phân hóa, rửa trôi mạnh (đất bạc màu thường nghèo kali); đất có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng kali cao hơn đất có thành phần cơ giới nhẹ; đất càng chua càng thiếu kali vì mức độ bão hòa bazơ giảm.
Trong đất kali nằm ở 3 dạng, tuy đều là dạng khoáng nhưng lại có khả năng dễ tiêu với cây khác nhau nhiều.Dạng kali có nhiều nhất là kali trong thành phần các khoáng vật như fenpat, muscovit, sinvinit…chiếm 98-99% kali tổng số.Nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng dễ tiêu cho cây của các khoáng vật rất hạn chế, trừ một số khoáng vật có khả năng hòa tan trong CO2, có thể nghiền trực tiếp làm phân bón cho cây.