MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây Lê (Pyrus L.) được phân loại trong phân tông Pyrinae trong phạm vi tông Pyreae, họ Rosaceae. Cây lê là cây ăn quả đặc sản của tỉnh Cao Bằng, được người tiêu dùng trong, ngoài tỉnh ưa thích. Quả lê có thể sử dụng để ăn tươi, làm ô mai, bánh mứt kẹo, làm rượu, nước giải khát… Quả lê giàu dinh dưỡng, đặc biệt là sắt, chất xơ và Vitamin C.
Trong 100g thịt quả có 86g nước, đường 11,5g, vitami B1 0,01mg, vitamin E 0,1mg, 0,1g chất béo, 0,3g protein, 11g carbohydrat, 2,1g xơ,182mg Kali, 14mg canxi, 13mg phospho, 0,5mg sắt, 0,2mg vitamin PP, 4mg vitamin C, betacaroten, 1mg acid folic (Đào Thanh Vân và Ngô Xuân Bình, 2006)… Quả lê có thể lưu trữ ở nhiệt độ phòng cho tới khi chín (Dayal et al. Lê được coi là chín khi lớp cùi thịt xung quanh cuống lún xuống khi ép nhẹ (Gibson, 1978).Lá lê được sử dụng làm thuốc hút tại châu Âu trước khi có sự du nhập của thuốc lá (Pyrus pyraster) (The wonder of pears). Các quả lê chín được lưu giữ tốt nhất ở nhiệt độ khoảng 4°C, xếp thành lớp mỏng không che đậy, với điều kiện như vậy, quả lê có được phẩm chất tốt trong vòng 2 - 3 ngày (Dayal et al. Trên thế giới năm 2018 diện tích lê là 1.923 ha, tổng sản lượng khoảng 23.772 tấn, lê được trồng nhiều ở Châu Âu và Châu Á ((FAOSTAT, 2018).
Ở nước ta, lê được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi có độ cao trung bình từ 300 - 900m so với mặt biển, rất thích hợp cho cây lê sinh trưởng và phát triển như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Hà Giang. Có nhiều giống lê chất lượng tốt như: lê vỏ nâu, lê vỏ xanh, lê vỏ vàng, mắc coọc; thịt quả ngọt, thơm ngon, trọng lượng quả to trung bình từ 200 - 500g, được dùng trong ăn tươi, chế biến, có năng suất trung bình 15 - 20 tấn quả/ha. Luan van 2 Tại tỉnh Cao Bằng, hiện cây lê được trồng chủ yếu ở các huyện: Thạch An, Trà Lĩnh, Bảo Lạc, Nguyên Bình, Hà Quảng. với tổng diện tích là 131,81 ha, trong đó có 82,24 ha cho thu hoạch với năng suất 3,18 tấn/ha, tổng sản lượng đạt 260 tấn.
Trong các vùng trồng, Lê được trồng ở khu vực: Đông Khê (Thạch An), Nguyên Bình và Bảo Lạc được người tiêu dùng đánh giá là có chất lượng cao hơn ở các vùng trồng khác. Giống lê xanh có vị ngọt, thơm và chát đặc trưng, khi ăn cảm nhận vị ngọt thanh, mềm nhưng lại giòn. Giống lê xanh quả rất to, trung bình từ 350 - 500g/quả, song ở điều kiện chăm sóc tốt quả có thể lên tới 1 - 1,2 kg/quả, thời gian thu hoạch quả từ tháng 7 - 8. Năng suất quả rất cao, khi chín màu xanh nâu.
Lê xanh thích hợp với nhiều loại đất như đất phù sa, đất đồi núi có tầng dầy từ 50 cm trở lên. Là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, nhưng thời gian gần đây việc sản xuất canh tác cây lê xanh đang đặt ra rất nhiều vấn đề như là: sự xuống cấp của các vườn cây, chất lượng suy giảm (quả nhỏ, mẫu mã xấu), sâu bệnh hại đa dạng và nguy hiểm; các TBKT về cây ăn quả được ứng dụng còn ít, chưa đồng bộ; không sử dụng chất điều tiết sinh trưởng, không bón phân qua lá và bổ sung vi lượng. Hiện tượng cách niên ra quả, năng suất thấp khá phổ biến (5 tấn/ha); Năng lực quản lý và đầu tư của các hộ dân còn hạn chế. ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và uy tín của giống lê xanh đặc sản trên thị trường.
Rất nhiều cây lê xanh có tỷ lệ ra hoa, đậu quả thấp, quả non rụng sau tắt hoa nhiều, quả nhỏ, mã quả xấu ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế của vườn và thu nhập của người trồng lê xanh. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra thực trạng sản xuất và nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng giống lê xanh tại huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Điều tra hiện trạng sản xuất lê xanh tại một số vùng trồng chính của tỉnh Cao Bằng để đánh giá các yếu tố hạn chế đến năng suất và chất lượng giống lê xanh. - Xác định được một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu có ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng giống lê xanh tại huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
Yêu cầu của đề tài 1. Điều tra hiện trạng sản xuất lê xanh tại một số vùng trồng chính của tỉnh Cao Bằng để đánh giá các yếu tố hạn chế đến năng suất và chất lượng giống lê xanh. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng giống lê xanh tại huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài về điều tra về giống lê xanh tại Cao Bằng là cơ sở cho việc qui hoạch vùng trồng, xác định chỉ giới địa lý để phát triển cây lê. Kết quả nghiên ảnh hưởng của một biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng giống lê xanh sẽ làm cơ sở để xây dựng qui trình kỹ thuật về thâm canh tăng năng suất cho cây lê tại Cao Bằng. Các kết quả của đề tài sẽ trở thành nguồn tham khảo và tư liệu sử dụng trong giảng dạy, đòa tạo và tập huấn về cây lê. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá được trực trạng sản xuất của cây lê xanh tại huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phầnbổ sung và hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật nâng cao tỷ lệ đậu hoa, quả, tăng năng suất, cải thiện mẫu mã quả và chất lượng sinh hóa quả trong quy trình kỹ thuật thâm canh lê phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đã tạo ra rất nhiều các loại giống mới ưu việt hơn, kết hợp với trình độ thâm canh tiến bộ và khoa học, đã giúp cho năng suất và phẩm chất cây trồng được tăng lên đáng kể. Các giống mới được nghiên cứu ra ngày càng nhiều để nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
Các giống mới cho năng suất cao khi được thu hoạch quả trong thời gian thích hợp, qua đó mỗi giống khác nhau thì thích hợp thu hoạch quả trong thời gian các vụ khác nhau. Thời điểm thu hoạch quả có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và hiệu quả kinh tế cây trồng, khi một giống tốt được thu hoạch quả trong một thời điểm thích hợp, các điều kiện thời tiết thích hợp, sẽ giúp cây trồng ít bị sâu bệnh qua đó nâng cao được năng suất và phẩm chất. Lê xanh là một loại cây đặc sản tại huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, chỉ phù hợp với từng tiểu vùng khí hậu, cây cho năng suất cao, chất lượng tốt, cây có thể chịu được hạn. Tuy nhiên do canh tác theo lối quảng canh, chăm sóc không theo quy trình, thời tiết diễn biến phức tạp… dẫn đến sâu bệnh hại nhiều, tỷ lệ đậu hoa, quả thấp, quả nhỏ, năng suất chất lượng kém… nên muốn nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển lê xanh theo hướng hàng hóa, ngoài việc sử dụng giống tốt cần áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh hợp lý như sử dụng một số chế phẩm qua lá giúp cung cấp dinh dưỡng nhanh và tức thời cho cây vào các giai đoạn ra hoa, kết quả làm tăng năng suất và chất lượng của giống lê xanh.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ lê 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lê trên thế giới Trên thế giới có khoảng 90 nước trồng lê, được trồng nhều nhất ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương. Lê thích nhiệt độ lạnh nhưng kém chịu rét đậm. Những vùng trồng lê chính của Nga là: Cranođaxki, Capkaja, Luan van 5 Ucraina.
Đặc biệt là vùng Địa Trung Hải và Nam Capkaja, người ta rất chú trọng tới việc trồng lê, ở những nơi đó được trồng chủ yếu là những giống lê ngon và có giá trị kinh tế nhất. Cây lê thuộc chi Pyrus, họ phụ Pomoideae, họ Rosaceae là cây ăn quả ôn đới quan trọng trên thế giới. Lê hiện đang được canh tác ở tất cả các vùng ôn đới trên thế giới với tổng diện tích năm 2018 đạt khoảng 10.134 ha với tổng sản lượng đạt xấp xỉ 59. Theo phân loại, hiện nay của các nhà khoa học dựa vào phân chia địa lý, Lê được chia thành 2 nhóm là Lê châu Âu và Lê châu Á.
Nhóm Lê châu Âu (Pyrus communis) có khoảng trên 20 loài và đang được sản xuất phổ biến tại các nước châu Âu, Nam châu Phi và một phần diện tích nhỏ tại Iran, Afganistan và các quốc gia trung Á. Nhóm Lê châu Á có khoảng 12 - 15 loài được trồng phổ biến ở các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc. Hiện nay, Trung Quốc là nước sản xuất Lê lớn nhất trên thế giới và hầu các giống lê thương mại của châu Á nói chung và Trung Quốc nói riêng đều xuất phát từ 3 loài P. Các giống lê trắng được trồng rất phổ biến ở phía bắc Trung Quốc, lê cát được trồng phổ biến ở thung lung dọc sông Trường Giang – Trung Quốc, ở Nhật Bản và Hàn Quốc.
ussuriensis không những được trồng phổ biến ở Trung Quốc mà còn xuất hiện phổ biến ở khu vực phía Đông nước Nga và Bắc Triều Tiên. Quả của các giống trong nhóm P. ussuriensis thường mềm khi chín, đây là đặc điểm khác so với đặc tính thịt quả giòn của lê trắng hay lê cát. Các giống lê bản địa của Việt Nam tại các tỉnh miền núi phía Bắc thường có thịt quả giòn và được xếp vào nhóm P.
Ở Pháp, lê được trồng rộng rãi ở tất cả các vùng với diện tích khá lớn, trong năm 1981 sản lượng lê của Pháp đứng thứ ba, sau Italia và Etats-Unis với 420 nghìn tấn/năm trên diện tích 22.