Đặt vấn đề Sự phát triển của mỗi cá nhân hay xã hội đều gắn với những môi trường nhất định. Trong đó bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Việc bảo vệ môi trường sống là công việc hết sức cần thiết. Nghị định 41- NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước khẳng định “Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương.
Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ việc bảo vệ môi trường. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững”. Trong môi trường tự nhiên thì cây xanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người. Cây xanh đối với môi trường sống được ví như là “lá phổi hô hấp”, tạo ra môi trường sống tự nhiên, trong lành cho mỗi con người.
Đối với các đô thị lớn thì cây xanh càng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Phát triển cây xanh đô thị là một trong những giải pháp hướng tới một đô thị bền vững. Cây xanh đô thị không chỉ tạo ra môi trường sống thuận lợi mà còn giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra ở các đô thị như tạo bóng mát, xây dựng cảnh quan đô thị văn minh. Ngoài ra, cây xanh với các đặc điểm tự nhiên, cùng các công trình kiến trúc khác tạo nên những sắc thái văn hóa đặc trưng, góp phần làm tăng vẻ đẹp cảnh quan, làm phong phú cuộc sống văn hóa tinh thần của cư dân đô thị.
Cây xanh ngày càng đóng vai trò quan trọng và là một tiêu chí không thể thiếu để Đảng và Nhà nước quan tâm. Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới phát triển đô thị bền vững, trong đó phát triển kinh tế gắn liền với an ninh xã hội và bảo vệ môi trường. m 2 Việc đa dạng hóa các loài cây đô thị là một phần rất quan trọng tạo nên sự phong phú và vẻ đẹp riêng cho các tuyến đường, khu phố. Tuy nhiên so với các loại hình cây xanh cảnh quan khác cây xanh đường phố, đô thị do sinh trưởng bị hạn chế đồng thời lại thường xuyên bị tác động bởi các yếu tố con người công trình nên tiêu chuẩn chọn cây và hình thức tổ chức trồng cây xanh đô thị cũng có những yêu cầu đặc thù riêng.
Nghiên cứu chọn loài cây trồng phù hợp với đặc điểm môi trường và tạo được nét đặc sắc riêng là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu. Để có được cây giống phục vụ cho nhu cầu trên cần có nguồn giống để cung cấp hàng năm, việc tạo giống là một việc rất quan trọng đối với ngành Lâm nghiệp. Qua tìm hiểu, cây Lôi khoai là loài cây có đặc điểm rất đẹp, vừa tạo bóng mát, vừa tạo cảnh quan xanh cho các công trình đô thị, vừa góp phần vào đa dạng các loài thực vật ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Cây thường xuất hiện trong các khu rừng tự nhiên.
Tuy nhiên ở Việt Nam thì vẫn còn ít và chưa phổ biến và đặc biệt chưa có một công trình nghiên cứu nào về cây Lôi khoai. Với đặc điểm sinh học như trên cũng như giá trị sử dụng về nhiều mặt nên cây Lôi khoai có khả năng phát triển rộng rãi. Hiện nay có hai phương pháp tạo giống phổ biến đó là phương pháp nhân giống vô tính và hữu tính. Nhân giống hữu tính phù hợp với nhiều đặc tính cây trồng, đem lại hiệu quả cao mà giá thành thấp và dễ tiến hành, cây con tạo ra rễ thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh, đây là phương pháp được ứng dụng rộng rãi phổ biến trong thời gian qua.
Trong sản xuất cây con từ hạt có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm, trong đó có hỗn hợp ruột bầu. Ruột bầu là nơi cung cấp chủ yếu dinh dưỡng cho cây trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn ươm, tuy nhiên mỗi loài cây phù hợp với thành phần ruột bầu m 3 khác nhau. Thực tế có những kết quả nghiên cứu đầy đủ về tạo hỗn hợp ruột bầu và được áp dụng cho một số loài cây đã sử dụng để trồng trong cả nước. Đặc tính chống chịu sâu bệnh của mỗi loài cây cũng khác nhau.
Xuất phát từ những vấn đề nói trên, em đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Lôi khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ nảy mầm, sinh trưởng của cây con Lôi khoai (Hvn, D00, Số lá). - Trên cơ sở đó, đề xuất gieo ươm theo nội dung nghiên cứu cây Lôi khoai. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua nghiên cứu thực tiễn đề tài giúp ta làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng kiến thức đã học được từ trong nhà trường và thực tiễn.
Củng cố kiến thức cơ sở cũng như chuyên nghành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành Lâm nghiệp. Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học. Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về nghiên cứu chuyên sâu loài cây Lôi Khoai. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn phương thức nhân giống và phát triển loài Lôi khoai.
Ý nghĩa trong thực tiễn Biết được cây Lôi khoai ở giai đoạn vườn ươm cần loại hỗn hợp ruột bầu nào phù hợp nhất, góp phần vào việc xây dựng hệ thống cây xanh đô thị. m 4 Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất, đồng thời có thể phổ biến công thức tốt nhất cho cây sinh trưởng cho người dân cùng áp dụng. Từ những hạn chế đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo giống cây con ở giai đoạn vườn ươm. Tạo cây con đảm bảo chất lượng tốt.
m 5 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Theo tổng cục lâm nghiệp cây con được tạo ra từ các vườn ươm phải đảm bảo cây giống được lựa chọn có những phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của các loài cây khác với chúng. Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con trong tương lai. Các loại phân bón hóa học được chăm sóc cây con trong thời gian ngắn.
Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của phân bón. - Trong sản xuất nông nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sống trực tiếp của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây. Đất tốt cây sinh trưởng tốt ra hoa kết quả sớm, sản lượng, chất lượng quả hạt cao, chu kì sai quả ngắn và ngược lại. Đất tốt là đất giàu dinh dưỡng chủ yếu là N, P, K,… và các nguyên tố vi lượng cần thiết đồng thời các thành phần đó có một tỷ lệ thích hợp.
Trong gieo ươm: - Điều kiện đất đai: Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con sinh trưởng, phát triển tốt hay xấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng nước và không khí cho cây. Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH,… của đất quyết định. m 6 + Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm sinh trưởng của cây con, dễ làm đất và chăm sóc cây con hơn… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng cần căn cứ và đặc tính sinh học của loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất thịt trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm. Gieo ươm cây Thông ưa đất cát pha, thoát nước tốt.
+ Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi lượng khác. Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận thân, rễ, cành, lá phát triển cân đối. + Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con.
Đất quá khô hoặc quá ẩm đều không tốt. Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho đất cát pha ở độ sâu là 1,5 - 2m, đất sét là trên 2,5m. Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước ngầm cao hay thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài cây ươm. Ví dụ: Gieo ươm cây Phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, song gieo ươm cây Thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước.
Nước: Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai đoạn vườn ươm. Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng. Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây Lôi khoai. Hệ rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng.
Nhiều nước sẽ tạo ra môi trường quá ẩm, kết quả rễ cây phát triển kém hoặc chết do thiếu không khí. Vì thế, việc xác định hàm lượng nước m 7 thích hợp cho cây non ở vườn ươm là việc làm rất quan trọng (Larcher, 1983; Nguyễn Văn Sở, 2004) [12]. + Độ pH của đất: được coi là một biến số chính trong đất vì nó ảnh hưởng đến nhiều quá trình hóa học. Nó đặc biệt ảnh hưởng đến lượng dinh dưỡng thực vật bằng cách kiểm soát các dạng hóa học của các chất dinh dưỡng khác nhau và ảnh hưởng đến các phản ứng hóa học mà chúng trải qua.
Phạm vi pH tối ưu cho hầu hết các cây trồng là từ 5,5 đến 7,5; tuy nhiên, nhiều loại cây trồng đã thích nghi để phát triển mạnh ở độ pH nằm ngoài phạm vi này.