Luận văn thạc sĩ về ảnh hưởng của yếu tố hải dương đến cá nục Decapterus spp. tại Nam Trung Bộ

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố hải dương đến phân bố và biến động nguồn lợi nhóm cá nục, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hải Dương Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

2019

77
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, NGUỒN LỢI NHÓM CÁ NỤC VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU QUAN HỆ CÁ – MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM VÀ VÙNG BIỂN NAM TRUNG BỘ

1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên khu vực nước trồi Nam Trung Bộ

1.1.1. Vị trí địa lý

1.1.2. Chế độ khí hậu

1.1.3. Hiện tượng nước trồi trong vùng biển Nam Trung Bộ

1.2. Tổng quan về phân bố nguồn lợi nhóm cá nục ở vùng biển Việt Nam

1.3. Ý nghĩa nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: DỮ LIỆU HẢI DƯƠNG HỌC, NGHỀ CÁ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH QUAN HỆ CÁ – MÔI TRƯỜNG BIỂN

2.1. Nguồn dữ liệu hải dương và dữ liệu năng suất khai thác nhóm cá nục

2.2. Dữ liệu hải dương

2.3. Dữ liệu nghề cá

2.4. Đồng bộ dữ liệu hải dương, môi trường biển với CPUE nhóm cá nục

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Lựa chọn các yếu tố hải dương, môi trường biển cho phân tích tương quan

2.5.2. Phân tích một số yếu tố hải dương trong khu vực nghiên cứu

2.5.3. Phương pháp nghiên cứu mối tương quan giữa một số yếu tố hải dương đến năng suất khai thác nhóm cá nục

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ, BIẾN ĐỘNG MỘT SỐ YẾU TỐ HẢI DƯƠNG VÀ MỐI QUAN HỆ CÁ – MÔI TRƯỜNG BIỂN ĐỐI VỚI NHÓM CÁ NỤC Ở VÙNG BIỂN NAM TRUNG BỘ

3.1. Phân tích, đánh giá một số yếu tố hải dương

3.1.1. Nhiệt độ nước biển

3.1.2. Hàm lượng chlorophyll a

3.1.3. Dòng chảy tầng mặt và dị thường độ cao mực biển

3.2. Mối quan hệ của năng suất khai thác nhóm cá nục với một số yếu tố hải dương

3.2.1. Mối quan hệ của năng suất khai thác nhóm cá nục với một số yếu tố hải dương trong vụ cá Bắc

3.2.2. Mối quan hệ của năng suất khai thác nhóm cá nục với một số yếu tố hải dương trong vụ chuyển tiếp 1

3.2.3. Mối quan hệ của năng suất khai thác nhóm cá nục với một số yếu tố hải dương trong vụ cá Nam

3.2.4. Mối quan hệ của năng suất khai thác nhóm cá nục với một số yếu tố hải dương trong vụ chuyển tiếp 2

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng hải dương đến cá nục Decapterus spp

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố hải dương đến cá nục Decapterus spp. là một lĩnh vực quan trọng trong hải dương học. Các yếu tố như nhiệt độ nước, độ muối, và dòng chảy có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố và biến động của nguồn lợi cá nục. Việc hiểu rõ mối quan hệ này không chỉ giúp bảo tồn nguồn lợi hải sản mà còn hỗ trợ trong việc quản lý nghề cá bền vững.

1.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ nước đến cá nục

Nhiệt độ nước là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh sản của cá nục. Nghiên cứu cho thấy rằng cá nục thường phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ từ 24 đến 30 độ C. Khi nhiệt độ vượt quá ngưỡng này, cá có thể gặp khó khăn trong việc sinh trưởng và sinh sản.

1.2. Tác động của độ muối đến sinh thái cá nục

Độ muối của nước biển cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định môi trường sống của cá nục. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng độ muối tối ưu cho cá nục là từ 30 đến 35 ppt. Sự thay đổi đột ngột về độ muối có thể gây stress cho cá, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và phát triển của chúng.

II. Thách thức trong nghiên cứu ảnh hưởng hải dương đến cá nục

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của hải dương đến cá nục, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thu thập và phân tích dữ liệu. Các yếu tố như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và sự thay đổi của dòng chảy có thể làm phức tạp thêm mối quan hệ giữa cá nục và môi trường sống của chúng.

2.1. Ô nhiễm môi trường và tác động đến cá nục

Ô nhiễm từ các nguồn khác nhau như công nghiệp và nông nghiệp có thể làm giảm chất lượng nước biển, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của cá nục. Các chất ô nhiễm như kim loại nặng và hóa chất độc hại có thể tích tụ trong cơ thể cá, gây ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe của chúng.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến sinh thái biển

Biến đổi khí hậu đang gây ra những thay đổi lớn trong hệ sinh thái biển, bao gồm sự thay đổi nhiệt độ nước và độ pH. Những thay đổi này có thể ảnh hưởng đến sự phân bố và sinh sản của cá nục, làm giảm nguồn lợi hải sản trong tương lai.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng hải dương đến cá nục

Để nghiên cứu ảnh hưởng của hải dương đến cá nục, các nhà khoa học thường sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm phân tích dữ liệu hải dương học, khảo sát thực địa và mô hình hóa sinh thái. Những phương pháp này giúp xác định mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và sự biến động của nguồn lợi cá nục.

3.1. Phân tích dữ liệu hải dương học

Phân tích dữ liệu hải dương học bao gồm việc thu thập và xử lý thông tin về nhiệt độ, độ muối, và các yếu tố khác trong môi trường biển. Dữ liệu này giúp xác định các điều kiện sống tối ưu cho cá nục và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của chúng.

3.2. Khảo sát thực địa và thu thập mẫu

Khảo sát thực địa là một phần quan trọng trong nghiên cứu. Các nhà khoa học thu thập mẫu cá nục và các yếu tố môi trường để phân tích. Việc này giúp cung cấp thông tin chi tiết về sự biến động của nguồn lợi cá nục trong các điều kiện khác nhau.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu ảnh hưởng hải dương đến cá nục

Nghiên cứu về ảnh hưởng của hải dương đến cá nục không chỉ có giá trị học thuật mà còn có ứng dụng thực tiễn trong quản lý nghề cá. Những thông tin thu được từ nghiên cứu có thể giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định hợp lý nhằm bảo vệ nguồn lợi hải sản và phát triển bền vững ngành thủy sản.

4.1. Quản lý nguồn lợi cá nục bền vững

Thông qua việc hiểu rõ mối quan hệ giữa cá nục và môi trường, các nhà quản lý có thể xây dựng các chính sách khai thác hợp lý, đảm bảo nguồn lợi cá nục được duy trì và phát triển bền vững.

4.2. Đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường biển

Nghiên cứu cũng giúp đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường biển, giảm thiểu ô nhiễm và bảo tồn các hệ sinh thái biển. Điều này không chỉ có lợi cho cá nục mà còn cho toàn bộ hệ sinh thái biển.

V. Kết luận về nghiên cứu ảnh hưởng hải dương đến cá nục

Nghiên cứu ảnh hưởng của hải dương đến cá nục Decapterus spp. là một lĩnh vực quan trọng, giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa sinh vật biển và môi trường sống của chúng. Những kết quả từ nghiên cứu này có thể đóng góp vào việc quản lý và bảo tồn nguồn lợi hải sản trong tương lai.

5.1. Tương lai của nghiên cứu hải dương học

Nghiên cứu hải dương học sẽ tiếp tục phát triển, với sự chú trọng vào các yếu tố môi trường và tác động của chúng đến sinh vật biển. Các công nghệ mới sẽ giúp cải thiện khả năng thu thập và phân tích dữ liệu, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu.

5.2. Tầm quan trọng của bảo tồn nguồn lợi hải sản

Bảo tồn nguồn lợi hải sản là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu về ảnh hưởng của hải dương đến cá nục sẽ góp phần nâng cao nhận thức và hành động bảo vệ môi trường biển.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố hải dương đến phân bố và biến động nguồn lợi nhóm cá nục decapterus spp ở khu vực nước trồi nam trung bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, NGUỒN LỢI NHÓM CÁ NỤC VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU QUAN HỆ CÁ – MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM VÀ VÙNG BIỂN NAM TRUNG BỘ 1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên khu vực nước trồi Nam Trung Bộ 1. Vị trí địa lý Phạm vi nghiên cứu là khu vực nước trồi Nam Trung Bộ và lân cận (được xác định bởi phạm vi hoạt động của hiện tượng nước trồi trong khu vực, mục 1.3), được giới hạn từ 08o00’N đến 15o00’N và từ 107o00’E đến 113o00’E (Hình 1). Khu vực này có đ bờ biển kéo dài từ tỉnh Bình Định đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có các kiểu địa hình đa dạng và phức tạp do chịu sự tác động bởi các hệ thống sông ngòi cũng như các quá trình Hình 1.

Khu vực nước trồi Nam Trung Bộ động lực ven biển. Chế độ khí hậu Khu vực Nam Trung Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô bắt đầu từ tháng 1 và kết thúc vào tháng 8, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 12, ngoài ra thời kỳ tháng 5, tháng 6 thường xảy ra mưa lũ tiểu mãn của khu vực. Đặc điểm của miền khí hậu này là mùa mưa, mùa khô không cùng lúc với mùa mưa và mùa khô của các miền khí hậu khác; mùa hè trong khi cả nước có lượng mưa lớn nhất, thì miền khí hậu này lại đang ở thời kỳ khô nhất. Mùa mưa trùng vào thời kỳ hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa Đông Bắc nên lượng mưa tập trung chủ yếu vào thời kỳ này, chiếm từ 65 - 80% 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tổng lượng mưa năm.

Tổng lượng mưa năm trung bình trong toàn khu vực phổ biến từ 1150 - 1950mm, riêng tỉnh Ninh Thuận lượng mưa năm đạt từ 700 - 800mm. Hiện tượng nước trồi trong vùng biển Nam Trung Bộ Nước trồi là một quá trình động lực nổi bật trong đại dương nói chung và trong các biển nói riêng, xét theo vị trí địa lí nước trồi được chia thành hai loại: nước trồi ngoài khơi và nước trồi ven bờ, hay nước trồi vùng bờ (coastal upwelling). Ở Việt Nam trong thời kỳ gió mùa Tây Nam thịnh hành (tháng 6 đến tháng 8), trong các vùng biển thềm lục địa Nam Trung Bộ, vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận được đánh giá đã tồn tại hiện tượng nước trồi mạnh nhất. Các vùng biển khác nằm ở phía Bắc và phía Nam vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hiện tượng nước trồi cũng tồn tại, nhưng ở mức độ trung bình hoặc yếu: vùng biển từ Bắc Khánh Hòa đến Bình Định, hiện tượng nước trồi tồn tại với mức độ trung bình yếu, ở vùng biển Nam Bộ từ Bà Rịa - Vũng Tàu đến Cà Mau, mặc dù chế độ gió mùa Tây Nam phát triển rất mạnh so với các vùng khác, nhưng do đặc điểm của địa hình đáy tương đối nông và bằng phẳng, không thuận lợi cho việc hình thành nước trồi.

Hơn nữa, ở vùng biển này, ảnh hưởng của dòng chảy lạnh Bắc - Nam là rất yếu, nên hiện tượng nước trồi phát triển ở vùng biển này cũng rất yếu và khó có thể nhận dạng được [29]. Theo Võ Văn Lành ảnh hưởng của hiện tượng nước trồi thể hiện rõ từ tháng 5 đến tháng 10, mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 9. Ở vùng nước sâu Khánh Hòa nước trồi xuất phát từ tầng trung gian 100–125 m, còn ở các vùng nước nông Phan Thiết và Đông Nam Côn Đảo thì từ đáy [19]. Về biến động của tâm nước trồi ở Việt Nam, có thể nhận thấy sự phân bố tâm vùng nước trồi trong tháng 7 từ 12o00’N đến 14o00’N và giới hạn phía Đông vào khoảng 111o30’E, trong tháng 8 tâm nước trồi dao động trong khoảng từ 12o00’N đến 14o00’N và giới hạn phía Đông được mở rộng ra vào khoảng 114o00’E [28].

Tổng quan về phân bố nguồn lợi nhóm cá nục ở vùng biển Việt Nam Ở Việt Nam nhóm cá nục chiếm ưu thế ở vùng biển vịnh Bắc Bộ và vùng biển Nam Trung Bộ ở cả hai mùa gió Đông Bắc và Tây Nam, các vùng biển Đông và Tây Nam Bộ có mật độ phân bố của nhóm cá nục thấp hơn. Trong mùa gió Tây Nam, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhóm cá nục phân bố khá đều ở vịnh Bắc Bộ và tập trung ở một số khu khác như vùng biển Quảng Nam, vùng biển Khánh Hòa – Ninh Thuận. Trong mùa gió Đông Bắc, cá nục phân bố ở phía Bắc vịnh Bắc Bộ với mật độ thấp hơn, chủ yếu tập trung ở khu vực Bạch Long Vỹ và vùng biển Nghệ An – Hà Tĩnh. Ở Trung Bộ, vùng biển Quảng Nam có mật độ phân bố của nhóm cá nục cao hơn so với mùa gió Tây Nam, nhưng vùng biển Khánh Hòa – Ninh Thuận thì mật độ phân bố của nhóm giảm đi so với ở mùa gió Tây Nam.

Mùa gió Đông Bắc, vùng biển ven bờ Bà Rịa – Vũng Tàu có sự xuất hiện của nhóm cá nục với mật độ cao hơn so với các khu vực khác ở vùng biển Đông Nam Bộ [9]. Hiện nay trên thế giới đã xác định có 12 loài cá nục trong đó ở Việt Nam có 3 loài cá nục chính là cá nục sồ (Decapterus maruadsi), cá nục thuôn (Decapterus macrosoma Bleeker) và cá nục đỏ đuôi (Decapterus kurroides Bleeker). Cá Nục sồ Cá Nục sồ - Decapterus maruadsi Temminck & Schlegel, 1844 thuộc họ cá Nục Carangidae, bộ cá Vược Perciformes (Hình 2), phân bố rộng ở biển Việt Nam, bắt gặp ở vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ tới vịnh Thái Lan, chủ yếu ở độ sâu 30-60m (Bùi Đình Chung và đồng tác giả, 1998). Sản lượng khai thác cá Nục sồ chủ yếu ở các nghề khai thác cá nổi như lưới vây, chụp mực, lưới kéo đáy… (Bộ thủy sản, 1996).

Tỷ lệ sản lượng cá nục chiếm 14,8% sản lượng đánh bắt bằng lưới kéo và 13,8% sản lượng đánh bắt bằng lưới kéo tầng giữa ở biển Việt Nam. Ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, cá Nục sồ chiếm 1,58-12,54% sản lượng nhóm cá nổi đánh bắt bằng tàu lưới kéo đáy (Nguyễn Viết Nghĩa, 2007), (theo trích dẫn của Nguyễn Xuân Huấn [9]). Cá Nục sồ - Decapterus maruadsi (Temminck & Schlegel, 1844) 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cá Nục sồ là một đối tượng được quan tâm nghiên cứu nhiều cả về đặc điểm sinh học, sinh thái học và nguồn lợi. Các nghiên cứu về sinh học đặc biệt là sinh học sinh sản của loài cá này đã được thực hiện, trong đó có thể kể đến kết quả nghiên cứu của Lê Tự Cường (1985), Nguyễn Phi Đính (1991), Bùi Đình Chung và đồng tác giả (1998), Đào Mạnh Sơn và đồng tác giả (2008), Phạm Huy Sơn và đồng tác giả (2011), Trần Văn Cường và Lê Đức Giang (2013) và Nguyễn Thành Nam và cộng sự (2015).

Đặc điểm sinh học sinh sản cơ bản cá Nục sồ ở phía Tây vịnh Bắc Bộ: Nghiên cứu của Phạm Huy Sơn và đồng tác giả (2011) về cá Nục sồ ở khu vực phía Tây vịnh Bắc Bộ cho thấy, chiều dài dao động trong khoảng từ 4 - 28cm, tăng dần từ tháng 6 năm trước đến tháng 2 năm sau, cá sinh trưởng nhanh nhất ở năm đầu tiên và chậm dần ở các năm tiếp theo; cá cái thành thục và tham gia sinh sản hai lần trong khi cá đực chỉ thành thục và tham gia sinh sản một lần trong năm; tháng 3 là tháng đỉnh trong mùa vụ sinh sản. Lê Tự Cường (1985) cho rằng ở vịnh Bắc Bộ, mùa đẻ của cá Nục sồ kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 và đẻ rộ nhất vào các tháng 5, 6, 7 (theo trích dẫn của Nguyễn Xuân Huấn [9]). Theo Hoàng Ngọc Sơn mùa sinh sản của cá Nục sồ ở vịnh Bắc Bộ diễn ra từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm, trong đó sinh sản mạnh nhất vào tháng 3 [26]. Đặc điểm sinh học sinh sản cá Nục sồ ở vùng biển tỉnh Thanh Hóa: Trần Văn Cường (2013) đã nhận định rằng, với các nghiên cứu trước đây cá Nục sồ khai thác có kích thước dao động 6-23,9cm ở biển Việt Nam (Bùi Đình Chung, 1998), 11-26cm ở vịnh Bắc Bộ (Lê Tự Cường, 1985), 7-27cm ở giữa vịnh Bắc Bộ (Đào Mạnh Sơn, 2008), 5-25cm ở giữa vịnh Bắc Bộ (Phạm Huy Sơn, 2011)… có kích thước tương tự với cá Nục sồ đánh bắt ở vùng biển Thanh Hóa (6-26cm).

Xét chung cho loài và giới đực hệ số thành thục trung bình biến động và đạt đỉnh duy nhất vào thời điểm tháng 3, giới cái có 2 đỉnh khá rõ, hệ số thành thục đạt cao nhất ở tháng 3 sau đó giảm dần ở tháng 4 và tăng trở lại vào tháng 5; trên cơ sở đó nhận định rằng mùa vụ sinh sản của cá nục sồ ở vùng biển Thanh Hóa từ tháng 3 đến tháng 5, cá đẻ rộ vào tháng 3 [1]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Phi Đính (1991) đã chỉ ra sự khác biệt về mùa vụ sinh sản của cá Nục sồ theo các vùng biển, cụ thể như sau: từ tháng 4 đến tháng 9 ở vùng biển Nam Bộ; từ tháng 1 đến tháng 8 và đẻ rộ vào tháng 2, tháng 4 ở vịnh Bắc Bộ; từ tháng 3 đến tháng 4 và đẻ rộ vào tháng 4 ở vùng biển Thanh Hóa, Nghệ An. Đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra rằng, cá Nục sồ đẻ trứng nổi và có thể đẻ 2-3 đợt trong mùa sinh sản. Như vậy, kết quả nghiên cứu về mùa đẻ cá Nục sồ ở biển Thanh Hóa phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Phi Đính (1991) ở vùng biển Thanh Hóa - Nghệ An và ít nhiều có liên quan đến mùa vụ sinh sản chung của cá Nục sồ ở vịnh Bắc Bộ (theo trích dẫn của Nguyễn Xuân Huấn [9]).

Đặc điểm sinh học sinh sản cá Nục sồ ở vùng ven biển cửa sông Thuận An, tỉnh Thừa Thiên - Huế: Đặc điểm sinh học sinh sản cá Nục sồ ở vùng ven biển cửa sông Thuận An, tỉnh Thừa Thiên - Huế dựa trên kết quả phân tích 257 mẫu cá thu ở khu vực nghiên cứu trong thời gian từ 21-29/7/2015. Tuyến sinh dục của 257 cá thể cá đã được xác định giai đoạn thành thục, kết quả cho thấy tất cả các cá thể đều chưa chín sinh dục (đều ở giai đoạn I, II, III), trong đó đa số đang ở giai đoạn II (87,16%). Do vậy thời gian thu mẫu (tháng 7) không phải là thời gian sinh sản của cá Nục sồ ở cửa sông Thuận An, nên chưa thể đánh giá được mùa vụ sinh sản nhóm cá nục trong khu vực này (theo trích dẫn của Nguyễn Xuân Huấn [9]).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ