Đặt vấn đề Chuối là loại cây ngắn ngày, nhiều công dụng và ít tốn diện tích nên chuối đƣợc trồng phổ biến khắp nơi trên đất nƣớc ta và dần trở thành mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu quan trọng trong những năm gần đây. Theo Tổng cục thống kê năm 2021 Việt Nam có 155,3 nghìn ha trồng chuối với sản lƣợng quý I/2021 đạt 653,4 nghìn tấn. Nhiều trang trại trồng chuối tiêu quy mô vài chục đến hàng trăm ha đã đƣợc hình thành tại Hƣng Yên, Lào Cai, Đồng Nai… Cũng nhƣ nhiều nƣớc trồng chuối, Việt Nam đang phải đối mặt với bệnh héo vàng lá chuối (bệnh héo rũ panama). Trong vài năm gần đây bệnh héo rũ Panama (Fusarium oxysporum f.
cubense) gây hại ở nhiều địa phƣơng, bệnh làm cho chuối héo vàng, năng suất giảm và vƣờn chuối lụi dần sau 2-3 năm. Để kiểm soát, khống chế sự lây nhiễm nguồn bệnh trên cây trồng thì ngƣời dân thƣờng sử dụng các loại thuốc hóa học, đây là cách nhanh và hiệu quả để kìm hãm và kiểm soát mầm bệnh. Năm 2020, việc sử dụng thuốc trừ sâu trên toàn cầu đƣợc ƣớc tính sẽ tăng lên đến 3,5 triệu tấn (Anket Sharma et al. Thuốc trừ sâu đƣợc áp dụng để tăng năng suất cây trồng.
Tuy nhiên, theo thời gian thuốc trừ sâu tích lũy trong nƣớc, đất, không khí và các bộ phận của thực vật cũng nhƣ ảnh hƣởng đến quần thể sinh vật. Việc sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu làm ô nhiễm đất và nƣớc, tồn đọng trong cây trồng và cuối cùng xâm nhập vào chuỗi thức ăn, do đó gây ra mối đe dọa cho con ngƣời. Vì vậy, kiểm soát sinh học đối với bệnh thực vật đƣợc biết đến là hiệu quả và an toàn với môi trƣờng hơn so với việc sử dụng thuốc diệt nấm tổng hợp. Hầu hết các xạ khuẩn thuộc giống Atinomyces có khả năng hình thành chất kháng sinh, đây là đặc điểm quan trọng nhất của xạ khuẩn.000 kháng sinh hiện nay trên thế giới thì hơn 80% là có nguồn gốc từ xạ khuẩn.
So 1 với thuốc hóa học, dùng các chất kháng sinh trong bảo vệ thực vật vừa có tác dụng nhanh, dễ phân hủy, có tác dụng chọn lọc cao, độ độc thấp không gây ô nhiễm môi trƣờng, còn có khả năng ức chế các vi sinh vật đã kháng thuốc hóa học. Chất kháng sinh và các dịch lên men của các chủng sinh kháng sinh còn dùng xử lý các hạt giống với mục đích tiêu diệt nguồn bệnh ở bên ngoài và bên trong hạt, diệt bệnh cả ở các bộ phận nằm trên đất của cây và khử trùng đất. Các chủng Streptomyces liên tục đƣợc khám phá để tìm ra thuốc kháng vi sinh vật gây bệnh. Việc đánh giá ảnh hƣởng liên quan đến sinh khối xạ khuẩn cũng cần đƣợc quan tâm và chú trọng.
Sản xuất tác nhân kiểm soát sinh học là một bƣớc cơ bản trong việc phát triển thành công sản phẩm kiểm soát sinh học để ứng dụng thƣơng mại. Sản xuất các chế phẩm cần xác định đƣợc ảnh hƣởng của thành phần môi trƣờng và tối ƣu hóa các điều kiện nuôi cấy đến sinh trƣởng của các chủng xạ khuẩn. Tối ƣu hóa sản xuất chế phẩm bao gồm hai bƣớc: xác định thành phần của môi trƣờng và tối ƣu hóa các điều kiện tăng trƣởng. Để giải quyết quá trình sản xuất tác nhân kiểm soát sinh học để có đƣợc số lƣợng tế bào cao hoặc các chất chuyển hóa thứ cấp đƣợc tổng hợp hoặc cả hai, thì phƣơng thức hoạt động phải đƣợc biết đến.
Các bƣớc đầu tiên thƣờng đƣợc thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm thấp với các bình Erlenmeyer để có cơ hội để kiểm tra một số lƣợng cao các thành phần và nồng độ, và sự phát triển các điều kiện đƣợc tối ƣu hóa trong các lò phản ứng sinh học trong phòng thí nghiệm. Cuối cùng, sản xuất nhân rộng đầu tiên đƣợc tiến hành trong các lò phản ứng sinh học của nhà máy thí điểm. Nếu kết quả của nhà máy thí điểm là thành công, việc mở rộng quy trình sang các điều kiện thƣơng mại sẽ không khó (Neus Teixidó et al. Nhận thấy tính cấp thiết đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của điều kiện nuôi cấy đến sinh trƣởng của chủng xạ khuẩn 23 có khả năng kháng nấm Fusarium oxysporum gây bệnh Panama trên chuối” 2 1.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Khảo sát ảnh hƣởng của một số yếu tố đến sự sinh trƣởng của chủng xạ khuẩn 23 có khả năng kháng nấm Fusarium oxysporum gây bệnh Panama trên Chuối. Yêu cầu Nghiên cứu ảnh hƣởng của môi trƣờng nuôi cấy đến khả năng sinh trƣởng của xạ khuẩn 23. Đánh giá ảnh hƣởng của một số điều kiện nuôi cấy đến khả năng sinh trƣởng của chủng xạ khuẩn 23.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây chuối 2. Sơ lƣợc về cây chuối Chuối ( Musa acuminata Colla.) là một loại trái cây nhiệt đới quan trọng, và nó đóng một vai trò quan trọng trong an ninh lƣơng thực trên toàn thế giới (Shan et al. Cây chuối thuộc họ Chuối (Musaceae) gồm rất nhiều giống chuối (ƣớc tính có khoảng 300 giống chuối hiện đƣợc trồng trên thế giới).
Chuối là thực vật thân thảo lớn nhất trên thế giới. Toàn bộ cây cao trung bình khoảng 3-5m, có giống nhƣ chuối sáp cao tới 10m. Các loài chuối hoang dại đƣợc tìm thấy rất nhiều tại Đông Nam Á. Chuối đƣợc trồng chủ yếu ở các nƣớc nhiệt đới, nhiều nhất là Châu Á và Trung Mỹ, trong đó đáng kể đến là Philippines, Malaysia, Trung Quốc (đảo Hải Nam), Việt Nam,… Trên thế giới Chuối là một trong những cây ăn quả đƣợc trồng nhiều nhất cùng với cam quýt, nho, táo… 2.
Vai trò và ý nghĩa kinh tế của chuối Năm 2018, khoảng 155 triệu tấn chuối đƣợc sản xuất trên khắp thế giới, trong đó 27% đến từ khu vực châu Phi cận Sahara (SSA) (FAOSTAT 2020 ). Phần lớn sản lƣợng này đến từ các mảnh đất nhỏ và vƣờn sau nhà. Mức tiêu thụ chuối bình quân đầu ngƣời cao nhất trên thế giới là ở vùng cao nguyên Đông Phi, nơi một phần ba ngƣời dân sống dựa vào cây trồng này nhƣ một loại lƣơng thực chính, cây trồng này chiếm từ 20 đến 30% diện tích canh tác (Karamura et al. Ở Uganda, hàng triệu ngƣời dựa vào chuối để có thu nhập và thực phẩm sử dụng hàng ngày, với khoảng 75% nông dân trồng chuối (Jogo et al.
2013 ; Ochola et al. Việt Nam là nƣớc có khí hậu nhiệt đới, là một trong những xứ sở của cây chuối, từ Bắc xuống Nam, đồng bằng cũng nhƣ trung du, miền núi với nhiều giống chuối khác nhau. Theo Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thƣơng 4 Mại – Bộ Công Thƣơng (VITIC) năm 2019, chuối chiếm hơn 19% tổng diện tích cây trồng ăn quả với diện tích trên 100.000ha và có sản lƣợng tiêu thụ khoảng 1. Việt Nam đứng thứ 14 trên thế giới, chiếm 1,7% thị phần so với các nƣớc.
Giá trị của chuối 2. Giá trị dinh dƣỡng Thành phần dinh dƣỡng tính trên 100g chuối ăn đƣợc (theo cách tính của tổ chức Nông – Lƣơng thế giới – FAO,1976). - Protein: 1,8g - Lipid: 0,2g - Glucid:18,0g - Calcium: 10,0mg - Kalium: 28mg% - Sắt :0,5 mg% -Vitamin C: 8,0mg - Vitamin PP: 0,07mg% Quả chuối xanh chứa 10% tinh bột và 6,53% chất tanin.Trong 100g chuối có thể cung cấp khoảng 88 calo, 26,1g glucid; 0,3g lipid; 0 mg cholesterol, 1mg natri; 23g cabonhydrat; 2,6g chất xơ 2,6g; 12g đƣờng; 1,1g protein; 14 mg vitamin C; 12mg calci; 0,8mg sắt; 0,4 mg vitamin B6; 27mg magnegi. Giá trị sử dụng a.
Giá trị về thực phẩm Ở một vài quốc gia Châu Phi chuối đƣợc tiêu thụ dƣới dạng đã đƣợc chế biến làm thực phẩm chính và dùng để ăn tƣơi. Ngoài ra, chuối còn đƣợc dùng để chế biến thành các dạng thực phẩm khác nhƣ bột chuối, bánh, mứt, kẹo, chuối khô, làm rƣợu, làm giấm hoặc trích lấy tinh dầu. Giá trị về y học Cây Chuối tiêu (Musa paradisiaca L.) đƣợc biết đến nhƣ một loại thực phẩm và cũng là một vị thuốc. Nhiều bộ phận của cây chuối tiêu đã đƣợc nghiên cứu và chứng minh tác dụng chữa bệnh (Võ Văn Chi, 2012).
Nguyễn Thị Đông &cs. (2016) đã nghiên cứu tác dụng của dịch ép thân cây chuối tiêu trên chuột cống ĐTĐ typ 2 thực nghiệm, thân cây chuối tiêu có tác dụng làm giam nồng độ glucose máu, cholesterol toàn phần, Triglycerid huyết thanh, ức chế hoạt độ G6Pase ở gan nhƣng không làm thay đổi đáng kề nồng độ insulin huyết thanh. Lô chuột điều trị bằng hỗn hợp dịch thử có những dấu hiệu hồi phục ở tiểu đảo tụy. Dự đoán cơ chế tác dụng của thân cây chuối tiêu có thể là: ức chế tái tạo đƣờng thông qua ức chế G6Pase và có thề làm tăng nhạy cảm của mô đích với insulin, cải thiện tinh trạng kháng insulin trong ĐTĐ typ 2.
Chuối chín là thực phẩm dinh dƣỡng rất tốt cho mọi ngƣời, giúp ích cho hệ xƣơng, sự sinh trƣởng, cân bằng hệ thần kinh, là trái cây lý tƣởng cho các vận động viên. Giá trị về chăn nuôi Chuối là cây ăn quả đƣợc trồng phổ biến khắp nơi trong nƣớc ta. Ở nhiều vùng gò đồi chuối đƣợc chọn là cây trồng chính, mang lại thu nhập khá cao từ sản phẩm chính là quả. Thân cây chuối sau khi thu hoạch buồng vẫn còn tƣơi, sinh khối lớn, hàm lƣợng xơ thô cao có thể tận dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại.
Bùi Quang Tuấn và Nguyễn Văn Hải (2004) đã từng công bố kết quả nghiên cứu sử dụng thân cây chuối làm thức ăn cho bê sữa lai sinh trƣởng trong vụ đông. Thân cây chuối có hàm lƣợng nƣớc cao, giá trị dinh dƣỡng và hàm lƣợng protein thô thấp, có thể hạn chế đến lƣợng ăn vào và sức sản xuất của dê, cho nên cần sử dụng thêm một số loại thức ăn bổ sung để cân đối khẩu phần, đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng của gia súc. Một số loại bệnh ở cây chuối 2. Bệnh Sigatoka đen Bệnh Sigatoka đen do nấm Pseudocercospora fijiensis gây ra và đã đƣợc xác định là bệnh hại chính đối với việc sản xuất chuối trên toàn cầu.
Bệnh gây rụng lá nghiêm trọng và làm giảm khả năng quang hợp, tích lũy sinh khối và năng suất tại hầu hết các vùng trồng chuối có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Pseudocercospora fijiensis xuất hiện đầu tiên ở Đông Nam Á. fijiensis hiện đã xuất hiện ở Bhutan, Trung Quốc, Indonesia (bao gồm Java và Sumatra), Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam.