Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Nguồn gốc, phân loại và tầm quan trọng của cây thuốc lá 1. Nguồn gốc, vị trí phân loại của cây thuốc lá - Nguồn gốc: Thuốc lá là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới nhưng đến nay đã được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo các nghiên cứu khảo cổ học thì thuốc lá là loại cây mọc hoang dại ở châu Mỹ từ khoảng 6.
Người châu Âu đầu tiên khám phá ra thuốc lá chính là Christopher Columbus, người đã tìm ra châu Mỹ vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI. Trong lịch sử, cây thuốc lá được trồng đầu tiên ở châu Mỹ từ hơn 6.000 năm trước công nguyên và được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo, làm thuốc chữa bệnh (Akehur, 1981; Daryl et al. Loài Nicotiana tabacum L. được trồng đầu tiên ở Trung, Nam Mỹ và Nicotiana rustica được trồng ở Bắc Mỹ.
Khi các thuỷ thủ Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha phát hiện ra Châu Mỹ (ngày 11 tháng 10 năm 1492), họ đã là những người đầu tiên ngoài Châu Mỹ nhìn thấy các thổ dân tại đây sử dụng thuốc lá. Họ đã đưa thuốc lá về trồng trên vườn nhà ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Thuốc lá được đưa vào Châu Âu khoảng 1496 - 1498 do nhà truyền đạo người Tây Ban Nha là Roman Pano mang từ Châu Mỹ về; Andre Teve mang hạt từ Brazin về trồng ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1556; Jean Nicot mang hạt thuốc lá từ Bồ Đào Nha về Pari năm 1560; Petro Valeski đã mang hạt thuốc lá từ Anh về trồng ở Nga năm 1697; Vua Suleman cho trồng thuốc lá ở Bungaria năm 1687. và khoảng những năm 1600, thuốc lá còn được coi như tiền, vàng trong trao đổi hàng hóa trên thế giới.
Thuốc lá được trồng ở Châu Á, Châu Phi vào cuối thế kỷ 16 (Collins and Hawks, 1993; Daryl et al., 2000) Người ta không tìm thấy loài hoang dại N. tabacum trong tự nhiên nên có thể nó được lai tạo từ các loài hoang dại được tìm thấy tại Nam Mỹ, ở miền Bắc Achentina và Tây Nam Bolivia (Gerstel, 1976). 5 Tại Việt Nam, cây thuốc lá đã xuất hiện từ thời Vua Lê Thần Tông (Khoảng năm 1660) nhưng thực sự cây thuốc lá được trồng ở Biên Hoà, Gò Vấp, Thủ Dầu Một vào năm 1876; trồng ở Khánh Hòa năm 1895; trồng ở Tuyên Quang năm 1899. Giống Virginia blight gold dollar được trồng thử ở Việt Nam năm 1934 tại An Khê.
Năm 1940, giống Virginia blond cash được trồng thử tại Cao Bằng, Lạng Sơn (Lê Đình Thụy và Bùi Văn Tài, 1987). - Vị trí phân loại: Theo Wilson and Loomis (1967), thuốc lá được phân loại thuộc giới thực vật (Plant), phụ giới có phôi (Embryophyta), ngành có mạch dẫn (Tracheophyta), phụ ngành dương xỉ (Pteropsida), lớp thực vật hạt kín (Angiosperma), lớp phụ 2 lá mầm (Dicotyledonae), phân lớp cúc (Asteridae), bộ cà (Solanales), họ cà (Solanaceae). Họ này có tới trên 85 chi với tổng số trên 1.800 loài và đáng lưu ý là các loài như khoai tây, cà chua, ớt, các loại cà và trong đó có chi Nicotiana. Đặc trưng của các loài trong họ này là trong thân và quả thường chứa 1 loại alcaloid nào đó như solanin, atropin, copalamin, nicotin.
Chi Nicotiana được chia làm 3 chi phụ, 14 phân chi với tổng số tới 66 loài. Trong số này có 45 loài có nguồn gốc ở Bắc và Nam Mỹ, 20 loài ở Australia và 1 loài ở Châu Phi. Phần lớn những loài này là cây thân bụi hàng năm, 1 số là cây lâu năm và 2 loài là cây bụi thân gỗ. Đặc trưng của chi này là thân không phân nhánh, lá mọc theo hình xoắn trên thân.
Loài quan trọng nhất trong chi này là Nicotiana tabacum L. có số lượng nhiễm sắc thể lưỡng bội (Dihaploid = 2n =48). tabacum L (hoa đỏ) có lẽ được lai từ loài N. sylvestris Speg & Comes và N.
tomentosiformis Goodspeed hoặc N. rustica (hoa vàng và cánh hoa ngắn hơn) có lẽ là giống lai của hai loài N. undulata Ruiz & Pavon. Theo Smith (1979) thì chi Nicotiana được phân loại như sau: Chi phụ Rustica có 3 phân chi với 9 loài Chi phụ Tabacum có 2 phân chi và 6 loài Chi phụ Petunioides có 9 phân chi với 50 loài.
Tầm quan trọng của cây thuốc lá Thuốc lá là một loại cây công nghiệp ngắn ngày có tầm quan trọng bậc nhất về kinh tế trên thị trường thế giới không chỉ đối với trên 33 triệu nông dân của trên 120 quốc gia (những người coi cây thuốc lá là nguồn thu nhập chính) mà còn cho cả toàn bộ nền công nghiệp - từ các nhà máy chế biến, cuốn điếu, sản xuất phụ gia, phụ liệu đến cả hệ thống phân phối tiêu thụ, thậm chí cả một phần ngành sản xuất các vật tư nông nghiệp phục vụ cho cây thuốc lá như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Cây thuốc lá đã trở thành động lực phát triển kinh tế của cả các quốc gia có nền công nghiệp phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển, chậm phát triển. Cùng với sự tăng trưởng của ngành thuốc lá, nhiều quốc gia và bộ máy chính quyền địa phương của nhiều nước đang gặt hái lợi nhuận qua các loại thuế: từ thuế doanh thu, thuế môn bài, thuế tiêu thụ đặc biệt. Cây thuốc lá nếu không muốn nói là nhất thì cũng vẫn là một trong số rất ít cây trồng được nghiên cứu nhiều nhất cả về mặt khoa học sinh vật, khoa học thực vật, sinh lý, hóa sinh, kỹ thuật và công nghệ sinh học.
Thuốc lá được coi là đối tượng nghiên cứu khoa học truyền thống và thông qua cây thuốc lá, nhiều phát minh khoa học đã đóng góp những hiểu biết cho khoa học sinh vật. Đặc biệt Garner and Allard (1932) đã phát hiện ra hiện tượng quang chu kỳ ở thực vật. Theo số liệu của Hội thuốc lá Zimbabwe thì tại đây, cây thuốc lá sử dụng tới 7% tổng số lao động, 12% lao động công nghiệp, 30% lao động nông nghiệp, trồng thuốc lá đem lại lợi nhuận cao gấp 8 - 10 lần đỗ tương; 6 lần ngô; 4,5 lần bông; Hệ số thu nhập/chi phí rất cao (khoảng 3,6 lần). Mặc dù diện tích thuốc lá tại đây chỉ chiếm 3 % tổng diện tích đất nông nghiệp nhưng đã đóng góp 38 % tổng sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu và đem lại 30 % tổng số ngoại tệ xuất khẩu cho đất nước có giá trị trên 500 triệu USD/năm (Sarris, 2003).
Tại Vân Nam - Trung Quốc, doanh thu về thuốc lá hàng năm đạt tới trên 100 tỷ nhân dân tệ (8,3 NDT = 1USD) trong đó lãi 12 tỷ, nộp thuế được 25,6 tỷ (chiếm 72% doanh thu thuế toàn tỉnh). Tại Trung Quốc, ngành thuốc lá đã đóng góp cho nhà nước hàng trăm tỷ nhân dân tệ hàng năm, chiếm trên 10% doanh thu nhà nước và đứng đầu các ngành công nghiệp ở Trung Quốc (Sarris, 2003 ) 7 Tại Mỹ, thuốc lá có nghĩa là tiền; Thuốc lá là một trong 5 loại cây trồng mang lại cho nông dân Mỹ trên 1 tỷ USD hàng năm. Ngành công nghiệp thuốc lá Mỹ sử dụng trên 100.000 công nhân và nếu tính hết các loại thuế, phí. thì thu nhập từ cây thuốc lá là 12,7 tỷ USD (Tso, 1990).
Các nước Tây Âu có 1/6 nguồn thu quốc gia là từ thuốc lá. Cây thuốc lá chỉ chiếm diện tích gieo trồng ít nhưng lại có đóng góp lớn, chẳng hạn ở Hy Lạp, thuốc lá chỉ chiếm 4 - 5% diện tích nhưng đóng góp 13 % tổng giá trị nông nghiệp và nuôi sống 12 % dân số. Ở Bungaria, thuốc lá chiếm 40 % tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp và đóng góp 13 % tổng giá trị xuất khẩu (Sarris, 2003). Ở Việt Nam, thuốc lá được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên với diện tích trung bình hàng năm từ 18 - 20 ngàn ha thuốc lá các loại, thu được 30 - 45 ngàn tấn thuốc lá nguyên liệu và nộp cho ngân sách Nhà nước trên 10 nghìn tỷ đồng mỗi năm, tạo công ăn việc làm, góp phần đáng kể xoá đói giảm nghèo cho nông dân các dân tộc vùng núi phía Bắc, Tây nguyên (Hiệp hội thuốc lá Việt Nam, 2013).
Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá trên thế giới và ở Việt Nam 1. Vài nét về tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá thế giới Cây thuốc lá có nguồn gốc nhiệt đới nhưng ngày nay được trồng rộng rãi từ 40 vĩ độ Nam đến 60 vĩ độ Bắc. Theo thống kê của Universal Leaf Tobacco Company 2012, hàng năm toàn thế giới có tổng diện tích trồng thuốc lá khoảng 2,5 - 3,0 triệu ha với tổng sản lượng khoảng 4,9 - 5,6 triệu tấn. Thuốc lá Vàng sấy hiện nay chiếm tỷ trọng lớn tới 70 - 80% sản lượng, tiếp đến là thuốc lá Burley chiếm khoảng 10%, thuốc lá Oriental đứng thứ ba với 5% và còn lại là các chủng loại khác.
Số liệu này cho thấy thuốc lá Vàng sấy ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các chủng loại thuốc lá khác (tăng từ 60% của những năm trước năm 2000 lên trên 80% tổng sản lượng thuốc lá nguyên liệu hiện nay). Tổng sản lượng thuốc lá/năm giai đoạn 2005 - 2012 trên toàn thế giới đạt khoảng 5,5 – 6 triệu tấn (Bảng 1. Sản lượng thuốc lá nguyên liệu của thế giới giai đoạn 2005 - 2012 (Đơn vị: ngàn tấn) Chủng loại NL/Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011E 2012P Thuốc lá vàng 4.596 Burley 771 72 616 736 840 760 797 628 Oriental 352 268 235 26 27 248 221 210 Dark-fire-cured 37 36 42 5 55 42 40 40 Dark-Air-cured 145 145 142 132 123 125 128 120 Suncured 191 180 190 183 183 248 23 231 Thuốc lá khác 385 416 400 458 450 431 400 365 Tổng số 5.190 Nguồn: Universal Leaf Tobacc, 2013. (E: ước; P: Dự báo) Có thể thấy thuốc lá vàng chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đó là thuốc lá nâu, thuốc lá oriental.000 tấn tấn Năm Hình 1.
Tình hình sản xuất thuốc lá vàng từ năm 2003-2013 Nguồn: Universal Leaf Tobacco, 2013.1 cho thấy trong 11 năm (từ năm 2003 đến 2013) Trung quốc là quốc gia sản xuất thuốc lá vàng sấy lò tới trên ½ sản lượng toàn thế giới. Những quốc gia có sản lượng lớn tiếp theo là Brazil, Ấn Độ, Mỹ, Zimbabue. Mặc dù thế giới luôn nhắc tới hạn chế hút thuốc lá nhưng rõ ràng trong 10 năm qua, tốc độ tăng sản lượng bình quân trung bình xấp xỉ 3%/năm phản ánh mức độ tăng trưởng của ngành công nghiệp thuốc lá. Ngoài thuốc lá vàng, trong sản xuất thuốc lá Burley, Malawi đã vượt qua Mỹ để trở thành nước sản xuất nhiều nhất.