Mở đầu) nêu lên tính cấp thiết của đề tài và xác định mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Bên cạnh đó chỉ ra những đóng góp của đề tài theo ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn. Chương 2 (Tổng quan nghiên cứu) đưa ra một cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu; phân tích sơ lược và tổng hợp các kết quả của các bài nghiên cứu trên thế giới và trong nước, chỉ ra những mặt còn hạn chế của các bài nghiên cứu trước và bổ sung trong bài nghiên cứu này, đồng thời xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Chương 3 (Kết quả nghiên cứu) nêu lên các phương pháp tiếp cận nghiên cứu được sử dụng trong bài và xây dựng thang đo chính thức, chạy dữ liệu trên phần mềm SPSS phiên bản 20.0 và phân tích kết quả của dữ liệu.
Chương 4 (Khuyến nghị) đưa ra các khuyến nghị, hàm ý dựa trên kết quả nghiên cứu thu được từ chương 3. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan đề tài nghiên cứu Mỗi quốc gia không chỉ có một ngôn ngữ mà còn có rất nhiều ngôn ngữ địa phương trên cùng một lãnh thổ. Với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, tồn tại hơn 7099 ngôn ngữ.
Vì vậy, việc học ngoại ngữ hiện nay không chỉ là vấn đề của sinh viên Việt Nam mà còn của sinh viên trên toàn thế giới trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa. Theo các nhà nghiên cứu về khả năng tiếp cận ngôn ngữ mới của sinh viên thì có 60% sinh viên có hứng thú với việc học ngoại ngữ, 40% sinh viên còn lại tuy có nhu cầu tiếp cận nhưng gặp khó khăn trong việc tiếp thu. Với nội dung này đã có rất nhiều đề tài tìm hiểu không chỉ trong nước mà còn ở quốc tế. Vì vậy, việc học ngoại ngữ hiện nay đã và đang trở thành một xu hướng phát triển mạnh mẽ ở cộng đồng sinh viên trong và ngoài nước.
Nhờ có sự tiến bộ hiện đại của cuộc sống, nhu cầu học ngoại ngữ của sinh viên ngày càng tăng cao với đa dạng các loại ngôn ngữ như tiếng Hàn, tiếng Trung, tiếng Pháp,. Đặc biệt trong đó chính là tiếng Anh - ngôn ngữ chung trong giao tiếp quốc tế. Qua đó, một trong những hình thức chọn và học kiến thức mới của Anh ngữ đã và đang vô cùng đa dạng, có thể kể đến là hình thức học Tiếng Anh qua mạng xã hội TikTok.Alvarez và Marialexa Olivera - Smith (2013) chỉ ra rằng mạng xã hội không phải là môi trường học tập, nhưng nó có đủ khả năng và cơ hội để cải thiện việc học của sinh viên trong môi trường đại học. Điều này được khẳng định bởi một thực tế là hoạt động đúng đắn của một nhóm học tập trong mạng xã hội qua các trao đổi kiến thức và ý tưởng giữa những người tham gia, sự chuyển đổi vai trò giáo viên, sinh viên và ngược lại.
Khi chia sẻ mục tiêu học tập chung và cùng nhau tạo nên một nền tảng để chia sẻ kinh nghiệm của họ. Vai trò của giáo viên trong môi trường liên kết của mạng xã hội là tìm kiếm các phương pháp thay thế để thúc đẩy sự hợp tác giữa các sinh viên, góp phần tự điều chỉnh việc học và thậm chí cả đổi mới trong đánh giá. Và việc thúc đẩy hiệu quả của sử dụng các trang mạng xã hội cho giáo dục cần phải có các chính sách cụ thể cũng như một hệ thống đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho cả giáo viên và sinh viên, đặc biệt là mạng xã hội TikTok. 7 Đã có rất nhiều bài báo cáo và khảo sát trong và ngoài nước nhằm đánh giá thực trạng về tầm ảnh hưởng của TikTok tại Việt Nam.
Vào tháng 1/2021, We are social and Hootsuite ghi nhận có 72 triệu người dân Việt Nam sử dụng mạng xã hội thường xuyên, chiếm 73,7% dân số (Hootsuite, 2021). Trung bình người Việt sử dụng mạng xã hội 6 giờ 47 phút mỗi ngày, chỉ thấp hơn 7 phút so với trung bình của thế giới là 6 giờ 54 phút. Trong số những nền tảng mạng xã hội được sử dụng, TikTok hiện đang tăng trưởng mạnh mẽ tại Việt Nam.Không thể phủ nhận độ phủ sóng "thần kì" của TikTok ở thị trường Việt Nam trong những năm gần đây. Ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam hiện là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng người dùng của ứng dụng Tik Tok cao nhất.
Dữ liệu thống kê từ Statistic vào năm 2021 cho thấy, trong năm 2017, số lượng người dùng mạng xã hội này tại Việt Nam chi khoảng 1,04 triệu người. Và con số này được dự kiến sẽ tăng lên đến 17,42 triệu đến năm 2025. Không thể phủ nhận độ phủ sóng "thần kì" của TikTok ở thị trường Việt Nam trong những năm gần đây. Ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam hiện là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng người dùng của ứng dụng Tik Tok cao nhất (Degenhardt, 2021).
Dữ liệu thống kê từ Statistic vào năm 2021 cho thấy, trong năm 2017, số lượng người dùng mạng xã hội này tại Việt Nam chi khoảng 1,04 triệu người. Và con số này được dự kiến sẽ tăng lên đến 17,42 triệu đến năm 2025. Với 41% người dùng đang trong độ tuổi từ 16 đến 24, TikTok đã chứng minh vị thể của minh trong việc kết nối thế hệ trẻ toàn cầu (Globalwebindex, 2019). Theo phân tích của Bloomberg vào năm 2018 về dữ liệu của Liên Hợp Quốc, đến cuối năm 2019, 32% dân số thế giới là thế hệ Z (những người sinh từ năm 1995 đến năm 2012).
Vào thời điểm thế hệ Z nắm giữ sức mua trị giá 44 tỷ USD, các thương hiệu sẽ cần những chiến dịch thông qua nên tăng như TikTok để tiếp cận nhóm người tiêu dùng này. Có thể thấy, người Việt Nam, đặc biệt là những người trẻ và thế hệ Z, sử dụng mạng xã hội, cụ thể trong bài báo này là TikTok như một thói quen trong cuộc sống thường nhật. Vì vậy, có thể thấy rằng ứng dụng này ảnh hưởng đến rất nhiều khía cạnh của đời sống. Cho đến thời điểm hiện tại, TikTok đã và đang hướng đến nhiều nội dung đa dạng như nghệ thuật, hài kịch, thiết kế, làm đẹp, nấu ăn.
Không dừng lại ở đó, tranh 8 thủ sự phổ biến rộng rãi của mình, TikTok tiếp tục bắt tay với nhiều tổ chức giáo dục để chuyển hướng nội dung chia sẻ trên nền tảng này thành các nội dung có tính giáo dục và thực tiễn cao. Sự tập trung của TikTok vào giáo dục không phải là quá đột ngột. Trước đó, mạng xã hội này đã từng bắt tay với các tổ chức giáo dục trong chiến dịch #EduTok tại Ấn Độ, thu về 126.5 tỷ view từ các video về giáo dục, truyền động lực và các vấn đề sức khỏe. Gen Z và nhu cầu chuyển hướng sang các nội dung giáo dục: từ các video về các phản ứng hóa học, hay các lớp học vẽ tranh trên TikTok và các clip chia sẻ các mẹo nấu ăn,.
Ngoài ra, nhằm giúp người dùng dễ dàng cập nhật với các video giáo dục, TikTok tối ưu hóa việc sử dụng các hashtag như: #LearnOnTikTok - 8/2020 (toàn cầu), #ONhaOnThi - 6,7/2021 (Việt Nam), #EduTok (Ấn Độ). #TikTokHuongNghiep (10-26/3/2021), #TikTokMenTor, #HocCungTikTok. Việc TikTok tập trung thêm vào các nội dung độc đáo và ấn tượng đang nhận được sự đón nhận rất tích cực từ thế hệ Z. Qua các số liệu thống kê, họ có xu hướng ưa chuộng những nội dung giáo dục bên cạnh các nội dung mang tính giải trí.
Hashtag #LearnOnTikTok (tạm dịch: Học trên TikTok) đến nay đã thu về 40,3 tỷ lượt xem. Xu thế này cũng phản ánh sự phổ biến ngày càng rộng rãi của micro - learning - một phương pháp học tập trực tuyến theo từng bước nhỏ kết hợp với mô hình e - learning truyền thống. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu “The Wave of Change in The Methods of Education Brought by Social Media: A Case Study of TikTok’s Potential for Educational Content Creators” của tác giả ABDALLAH TAHA khoa Khoa học Văn hóa và Xã hội Paris Lodron Đại học Salzburg Khoa Kỹ thuật CNTT và Thiết kế Đại học Aalborg ở Copenhagen.
Dữ liệu được thu thập từ nghiên cứu được tiến hành phỏng vấn những người có ảnh hưởng vĩ mô trên TikTok và một chuyên gia EdTech, tác giả đã trả lời ba câu hỏi nghiên cứu. Đối với câu hỏi nghiên cứu thứ nhất, Sự hài lòng chính nhận được khi chia sẻ nội dung giáo dục trên TikTok là gì? Tác giả tìm thấy sự khác biệt sự hài lòng theo chiều hướng mà người sáng tạo đạt được bằng cách chia sẻ nội dung video mang tính giáo dục trên TikTok đóng vai trò là động lực để họ tiếp tục hoạt động trên nền tảng. Tác giả đã tìm thấy 4 các khía cạnh của sự hài lòng mang tính nhận thức, liên quan đến 9 sự sáng tạo, kỹ năng và phát triển kiến thức về mặt sáng tạo nội dung và nội dung giáo dục; tình cảm mà thiên về sự hài lòng về mặt cảm xúc có được từ nền tảng, chẳng hạn như có được nhiều người theo dõi và phản hồi tích cực; xã hội, bao gồm khả năng gia tăng giá trị cho cuộc sống của người khác và kết nối với những người sáng tạo khác; và cá nhân, liên quan đến việc tự đề cao và tăng cường sự tự tin. Hơn nữa, tác giả kết luận từ dữ liệu phỏng vấn các khía cạnh quan trọng đối với TikTok với tư cách là một nền tảng cho giáo dục.
Những suy nghĩ này có thể được tóm tắt trong việc mô tả TikTok như một nguồn giáo dục không đáng tin cậy, một công cụ tạo điều kiện cho việc đạo văn và một ứng dụng có thể gây nghiện và mất tập trung, từ đó trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ hai là “Mối quan tâm chính của người sáng tạo về TikTok như một công cụ giáo dục là gì và làm thế nào điều đó có ảnh hưởng đến ý định tiếp tục tồn tại trên nền tảng của họ không”. Và đến với câu hỏi thứ ba “TikTok được coi là một công cụ giáo dục như thế nào từ góc nhìn của chuyên gia EdTech?” dữ liệu phỏng vấn còn bao gồm những suy nghĩ và thông tin đầu vào từ một chuyên gia EdTech về đánh giá về tính hữu ích của TikTok như một công cụ giáo dục mà một số công cụ này hỗ trợ hoặc thách thức trải nghiệm của những người sáng tạo nội dung được phỏng vấn. Tác giả đã đưa ra danh sách những suy nghĩ có giá trị về TikTok như một công cụ giáo dục.