CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CHUNG 1. Đặc điểm của cầu thép Thép là vật liệu hoàn chỉnh được dùng rộng rãi trong tất cả mọi ngành công nghiệp cũng như đời sống hàng ngày và trong ngành xây dựng cầu nói riêng. Đặc điểm nổi bật của thép là tính chịu lực cao ứng với mọi tác động cơ học và loại ứng suất (kéo, uốn, nén, cắt, xoắn,…) do đó có thể dùng để xây dựng tất cả các loại cầu khác nhau như dầm, giàn, vòm, treo và các hệ liên hợp. Thép có trọng lượng riêng khá lớn nhưng độ bền cao nên trọng lượng bản thân kết cấu rất nhẹ, vì vậy có khả năng làm các cầu nhịp rất lớn mà các loại vật liệu khác không thực hiện được.
Hiện nay nhịp lớn nhất của cầu vòm BTCT hay cầu dây văng có dầm cứng bằng BTCT còn dưới 500m trong khi đó cầu giàn thép đã đạt 550m cầu dây văng dầm cứng bằng thép đã đạt 1000m và cầu treo đạt 2000m và đang có nhiều dự án cầu treo có nhịp tới 5000m. Thép có cường độ cao nhưng mô đun đàn hồi lớn, do đó cường độ lớn, độ võng nhỏ, nên cầu thép vẫn đáp ứng được điều kiện khai thác bình thường, chịu được ảnh hưởng của các loại tải trọng có chu kì như động đất, gió bão. Mặt khác, thép có tính dẻo dai cao, sự phá hoại của thép thường diễn ra dưới trạng thái dẻo, tức là phá hoại có kèm theo sự biến dạng lớn, tạo điều kiện phân bố lại nội lực và ứng suất, do đó chịu tải trọng xung kích và tải trọng mỏi tốt. Về mặt lý hóa, thép có tính đồng nhất cao, dưới ảnh hưởng của nhiệt độ, cường độ và môđun đàn hồi thay đổi ít nên cầu thường làm việc tốt trong điều kiện nhiệt độ của môi trường biến đổi.
Môđun đàn hồi tốt và tính chịu nhiệt cao là ưu điểm cơ bản của thép so với các loại vật liệu chất dẻo hiện nay. Về mặt chế tạo, thép dễ gia công, dễ cắt, rèn đập, đúc cán, hàn nên có thể chế tạo thành nhiều loại hình dạng thích hợp với đặc điểm các loại cầu khác nhau, đồng thời tạo khả năng công nghiệp hóa, tự động hóa chế tạo trong công xưởng. Thêm vào đó các bộ phận của cầu thép được vận chuyển từ nơi chế tạo đến công trường và công việc lắp ráp có thể cơ giới hóa triệt để, tạo điều kiện đẩy nhanh thời gian xây dựng công trình. 14 Một đặc điểm của cầu thép là có nhiều dạng liên kết đáng tin cậy như bulông, chốt, đinh tán, hàn và dán.
Các loại liên kết của thép đảm bảo tính lắp ghép cao, làm cho cầu dễ lắp, dễ tháo có thể dùng được trong các công trình vĩnh cửu, các công trình tạm và các công trình phục vụ quốc phòng. Nhược điểm cơ bản của thép là hiện tượng gỉ do tác động của môi trường ẩm, mặn, axit và các hơi độc khác. Gỉ ăn mòn thép làm giảm tiết diện chịu lực, làm hư hỏng liên kết, làm giảm tuổi thọ của công trình. Hiện nay đã có nhiều biện pháp chống gỉ hữu hiệu như sơn, mạ, dùng thép chống gỉ.
Nói chung các công trình bằng thép phải thưởng xuyên được kiểm tra, bảo quản, cạo gỉ, và tiến hành sơn phủ định kỳ. Do các đặc điểm trên nên thép thường được dùng cho kết cấu nhịp của các cầu lớn trên đường sắt, đường ô tô, và các loại cầu tạm, yêu cầu thi công nhanh, cầu quân sự, yêu cầu tháo rỡ nhanh và vận chuyển nhẹ nhàng. Mố trụ và các kết cấu móng chủ yếu dùng BTCT. Ưu điểm - Thép là loại vật liệu xây dựng hoàn chỉnh nhất.
Thép có các phẩm chất cao như tính đồng nhất, tính đẳng hướng, làm việc hoàn toàn đàn hồi trước khi đạt cường độ chảy. Thép có cường độ chịu kéo và nén cao. Qua giới hạn chảy, vì có độ dẻo cao, tạo được độ dự trữ về cường độ lớn mà các vật liệu khác không có được, do đó thép chịu ổn định và tải trọng động tốt. - Cầu thép xây dựng nhanh hơn cầu BTCT hay bêtông cốt thép ứng suất trước (BTCTƯST), có thể lắp dựng dễ dàng qua sông, suối, thung lũng trong các điều kiện môi trường khác nhau và giảm chi phí xây dựng.
- Kết cấu nhịp cầu thép nhẹ hơn BTCT, do đó giảm giá thành kết cấu phần dưới đặc biệt có ý nghĩa khi địa chất xấu. - Kết cấu nhịp cầu thép thường có thể thiết kế với chiều cao thấp hơn cầu BTCT, điều này rất có ý nghĩa khi cầm giảm chiều cao kiến trúc (các cầu vượt, cầu trên đường cao tốc…) 15 - Cầu thép dễ sửa chữa và sửa chữa nhanh hơn cầu BTCT, ví dụ trong cầu dầm thép có bản bêtông, có thể sửa chữa hoặc thay thế dầm thép mà không cần chống đỡ. Nhược điểm Cầu thép có một số nhược điểm quan trọng làm giảm sự hấp dẫn so với cầu bêtông ứng suất trước: - Gỉ của thép là vấn đề dai dẳng và tốn kém trong việc duy tu bảo quản cầu và đó là một trong các nguyên nhân chính dẫn tới phá hỏng cầu thép. Ngay cả đối với các loại thép được gọi là chống gỉ cũng không được như các nhà sản xuất thép công bố.
Hiện tượng gỉ ở cầu thép - Giá thành sơn cầu thép trong suốt thời gian phục vụ là rất cao. Vấn đề cạo gỉ khi sơn cầu làm ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe con người. Việc cạo sạch các lớp sơn cũ và thu gom các phế thải độc hại vô cùng đắt đỏ, đôi khi giá thành của việc cạo gỉ và thu gom phế thải độc hại đủ lớn để vứt bỏ cầu cũ và thay bằng một cầu mới. Vì sơn cầu dễ gây vấn đề phiền toái như vậy, hiện nay nhiều nơi đang soạn thảo một chỉ dẫn riêng về sơn cầu.
- Cách đây khoảng vài chục năm thường dùng thép không gỉ (A588) trong xây dựng cầu coi nhu biện pháp giảm giá thành bằng cách không cần sơn, nhưng theo thời gian, gỉ vẫn phát triển. Sự xuất hiện và phát triển của kết cấu nhịp thép bêtông cốt thép liên hợp. Sự ra đời và phát triển cầu thép bêtông cốt thép liên hợp 16 1.Sự ra đời và ứng dụng cầu thép bêtông cốt thép liên hợp trên thế giới Kết cấu nhịp TBTCTLH là một trong những dạng kết cấu cầu được sử dụng khá phổ biến trên nhiều nước trong cầu ôtô và cả trong cầu đường xe lửa. Đó là dạng kết cấu làm từ vật liệu thép và BTCT được liên kết chặt chẽ với nhau để cùng tham gia chịu lực, từ đó tận dụng khả năng chịu nén tốt của bêtông và khả năng chịu kéo của thép kết hợp chúng cùng làm việc với nhau.
Vật liệu thép thường là thép hình, vật liệu BTCT có thể là BTCT thường hoặc ứng suất trước. Kết cấu nhịp TBTCTLH thường hay gặp nhất dưới dạng dầm thép liên hợp với bản BTCT mặt cầu. Dầm có thể làm dưới dạng dầm giản đơn khi nhịp nhỏ và vừa, hoặc dầm liên tục khi cần vượt nhịp lớn. Kết cấu nhịp có nhiều dạng khác nhau như giàn, khung, vòm (thường ít gặp hơn).
S¬ ®å cÇu nhÞp gi¶n ®¬n S¬ ®å cÇu nhÞp liªn tôc chiÒu cao dÇm kh«ng ®æi S¬ ®å cÇu nhÞp liªn tôc chiÒu cao dÇm thay ®æi S¬ ®å cÇu nhÞp giµn liªn tôc S¬ ®å cÇu vßm S¬ ®å cÇu treo S¬ ®å cÇu giµn nhÞp gi¶n ®¬n Hình 1. Các dạng kết cấu nhịp thép bêtông cốt thép liên hợp Có thể coi kết cấu nhịp TBTCTLH là loại trung gian giữa kết cấu nhịp thép và kết cấu nhịp BTCT. Kết cấu TBTCTLH đã được ứng dụng từ rất lâu vào thực tiễn ở nhiều nước để làm các công trình xây dựng nói chung và xây dựng cầu nói riêng. Để tận dụng khả năng chịu kéo tốt của thép và nén tốt của bêtông từ đó có thể tiết kiệm vật liệu, 17 giảm trọng lượng bản thân của kết cấu.
So với kết cấu bêtông thì kết TBTCTLH có kích thước dầm thanh mảnh hơn, có khả năng vượt nhịp tốt hơn. Do những đặc điểm đó nên kết TBTCTLH đã được ứng dụng nhiều, rộng rãi trong xây dựng cầu. Năm 1955 cầu Stromsund ở Thụy Điển được xây dựng. Cầu có dầm cứng liên tục ba nhịp làm bằng thép hợp kim và các dây văng làm bằng dây cáp cường độ cao, cầu có nhịp chính 183m (hình 1.
Bản mặt cầu bằng BTCT. Cầu Stromsund nhịp 182.6m năm 1955 Năm 1958 theo thiết kế của Viện Lengiprotransmost (Liên Xô cũ), cầu dầm TBTCTLH nhịp giản đơn bắc qua sông Ê-nit-xây (Nga) được xây dựng với chiều dài 87,2m. Cầu vượt qua đường Salbris (hình 1.4) nhịp giản đơn có chiều dài 36,6m, nhưng được cấu tạo bản BTCTƯST ở cả biên trên và biên dưới của dầm. Mặt cắt ngang dầm có tiết diện hộp với sườn dầm làm từ tấm thép phẳng có các sườn tăng cường đứng và ngang liên kết bằng mối hàn.
Bản BTCT bên dưới được cấu tạo một phần là do cầu được thi công theo phương pháp đẩy và các bó cốt thép ứng suất trước được căng ra ngoài, một số bó bố trí tạm phục vụ quá trình thi công. Cầu Salbris (a-Mặt cắt ngang cầu; b- mặt cắt dọc) 18 Cầu Geschnitztalbruke ở Áo có sơ đồ 70+5x85+70m nằm trên đoạn đường cong bán kính R=600m, tiết diện là dầm I có chiều cao không đổi h=3,5m, bản mặt cầu BTCT, mặt cầu đúc toàn khối có chiều dày 23÷38cm (hình 1. Trong khu vực mômen âm của dầm bản BTCT không liên kết với dầm thép nhờ cấu tạo mối nối dọc và ngăn cách với phạm vi bản làm việc chịu nén bằng các khe nối theo phương ngang cầu. Mặt cắt ngang cầu Geschnitztalbruke Dạng kết cấu nhịp khung mút thừa lần đầu tiên được ứng dụng cho cầu Pêtrorski ở thành phố Kiép (Ucraina) vào năm 1949.
Tuy nhiên cầu loại này có nhịp lớn nhất dài 131m là cầu bắc qua kênh Volga-Đôn mang tên V. Đặc điểm của cầu này khi thi công lắp hẫng dầm thép từ hai bờ chất đối trọng ở phần mút thừa, do đó mômen dương ở giữa nhịp giảm dầm bằng 0. Đầu mút thừa được ghì xuống bằng thanh kéo xiên mảnh biến hệ thành hệ khung. Cầu Khung Mút thừa qua kênh Volga-Đôn 1- Đối trọng ; 2- Thanh kéo 19 Cầu Cognac (Pháp) là cầu đầu tiên trên thế giới áp dụng ý tưởng thay thế sườn dầm bằng thép tấm lượn sóng.
Cầu có sơ đồ liên tục ba nhịp 31+43+31 m (hình 1. Bề rộng cầu 11,7m, sườn dầm bố trí nghiêng và cấu tạo từ thép tấm lượn sóng, cốt thép ứng suất trước được bố trí trong bản bêtông.