MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của luận án Gà là đối tượng không thể tách rời ngành chăn nuôi tại Việt Nam, trong đó gà nuôi thả vườn luôn giữ vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của hộ nghèo (Đặng Thị Hạnh, 1999) [65] vì chi phí đầu tư cho hệ thống chăn nuôi này tương đối thấp (Okitoi et al. Trong các giống gà nuôi thả vườn của Việt Nam, gà H’mông thuộc nhóm gà có da, thịt và xương đen (Vũ Quang Ninh, 2001 [233]; Đào Lệ Hằng, 2001 [64]; Ngô Kim Cúc và ctv., 2002 [157]; Dương Thị Anh Đào và ctv., 2011 [64]) và thịt gà có giá trị dinh dưỡng cao và ngọt nhờ hàm lượng axit amin cao (Lương Thị Hồng và ctv. Gà H’mông được nuôi ở ĐBSCL từ năm 2007 trên 6.000 con tại tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long (Hồ Lâm, 2011) [90], chủ yếu bằng phương thức chăn thả hoặc bán chăn thả. Hơn nữa thịt gà H’mông được đánh giá là ngon và ngọt (Trần Trọng Trung, 2011 [226]; Hồ Lâm, 2011 [90]).
Năng lượng trao đổi và axit amin trong khẩu phần ảnh hưởng chính đến sinh trưởng và phát triển của gà. Đồng thời việc bổ sung protein vào khẩu phần mang hiệu quả là nhờ sự cân đối các axit amin. Cơ thể chỉ tổng hợp protein từ mẫu axit amin cân đối, bổ sung axit amin giới hạn để tạo sự cân đối (Lê Đức Ngoan và ctv, 2004) [119]. Trong khi, axit amin là đơn vị nhỏ nhất tổng hợp nên protein (Fuller, 2004) [75], nên nó là thành phần ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà.
Ngày nay, bảng axit amin lý tưởng theo lysine được sử dụng rộng rãi trong công thức khẩu phần của gà (Baker, 1997 [16]; Mack et al., 1999 [131]; Baker et al. Khi giảm protein thô và bổ sung axit amin vào khẩu phần đã hỗ trợ tốt cho tiêu thụ thức ăn và tăng trưởng của gà thịt (Yamazaki et al., 1998 [244]; Aletor et al. Hơn nữa, năng lượng trao đổi và axit amin khác nhau đã ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng thịt (Araújo et al., 2005 [11]; Corzo et al. Do đó năng lượng trao đổi và axit amin liên quan không chỉ đến từng giai đoạn phát triển và sản xuất của gà mà còn ảnh hưởng đến chất lượng thịt.
Chi phí thức ăn nuôi gà chiếm 60 - 90 % tổng chi phí sản xuất (Gunaratne et al., 1992) [78], nên lợi nhuận thu được phụ thuộc lớn vào chi phí thức ăn. Hơn nữa, các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi đã nhập khẩu trên 3,7 triệu tấn nguyên liệu/năm (Mai Hương, 2013) [133]. Do đó để tăng lợi nhuận cho người nuôi thì nên tận dụng thức ăn có sẵn của địa phương và kết hợp với chăn thả. 1 Ngoài ra, nghiên cứu để đánh giá ảnh hưởng của năng lượng trao đổi và axit amin trong khẩu phần lên sức sản xuất và chất lượng thịt gà H’mông chưa có.
Hơn nữa, kết quả thực hiện đề tài này sẽ tạo thêm những lựa chọn mới về giống và phương thức nuôi gà thả vườn tại ĐBSCL.2 Mục tiêu của luận án Xây dựng khẩu phần ăn thích hợp dựa trên nhu cầu năng lượng trao đổi và lysine và xác định phương thức nuôi thích hợp trong từng mùa cho gà H’mông nuôi ở ĐBSCL. Mục tiêu cụ thể: Xác định ảnh hưởng của các mức năng lượng trao đổi và lysine lên sức sản xuất thịt của gà H’mông qua từng giai đoạn sinh trưởng. Xác định ảnh hưởng của các khẩu phần lên sức sản xuất và chất lượng thịt gà H’mông. Xác định ảnh hưởng của phương thức và mùa vụ nuôi lên sức sản xuất và chất lượng thịt gà H’mông.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu gà H’mông được nuôi thịt tại tỉnh Trà Vinh với phạm vi gồm: - Nghiên cứu ảnh hưởng của năng lượng trao đổi và lysine lên sức sản xuất của gà H’mông nuôi thịt từ 0 đến 14 tuần tuổi; - Nghiên cứu ảnh hưởng của khẩu phần khác nhau lên sức sản xuất và chất lượng thân thịt của gà H’mông từ 0 đến 14 tuần tuổi; - Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức nuôi và mùa vụ lên sức sản xuất và chất lượng thân thịt của gà H’mông từ 5 đến 9 tuần tuổi.4 Những đóng góp mới của luận án 1.
Mức năng lượng trao đổi và lysine tốt nhất trong khẩu phần để nuôi gà H’mông thịt giai đoạn 0-4; 5-9; 10-14 lần lượt là 3.100 kcal/kg thức ăn và 0,85%. Xác định được ảnh hưởng của phương thức và mùa vụ nuôi gà H’mông cho sức sản xuất và chất lượng thịt tại ĐBSCL. 2 Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Vị trí địa lý, khí hậu và đất đai của tỉnh Trà Vinh Trà Vinh là tỉnh nằm trong khu vực Tây Nam bộ của Việt Nam, phía Đông giáp biển đông, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre (Cổng thông tin điện tử tỉnh Trà Vinh, 2013) [39].
Trà Vinh thuộc nữa Bán cầu Bắc, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau và mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 (Wikipedia, 2013a) [242]. Diện tích tự nhiên là 2.341 km2, được bao bọc bởi sông Tiền và sông Hậu, có 65 km bờ biển. Trà Vinh nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình 26-270C, độ ẩm trung bình 83-85%, lượng mưa trung bình 1.500 mm, ít bị ảnh hưởng bởi bão lũ. Diện tích đất nông nghiệp là 185 ngàn ha, đất ở nông thôn là 3.845 ha, đất chưa sử dụng là 900 ha.
Đất cát giồng toàn tỉnh chiếm 6,62% (Cổng thông tin điện tử tỉnh Trà Vinh, 2013) [39].1: Bản đồ địa lý hành chính của tỉnh Trà Vinh Như vậy, với diện tích đất giồng cát chiếm 6,62% và đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn nên việc phát triển gà thả vườn theo phương thức chăn thả hoặc bán chăn thả trên địa bàn tỉnh là hoàn toàn có thể.2 Tình hình chăn nuôi gà thả vườn ở ĐBSCL Nuôi gà chăn thả phát triển khắp mọi vùng nông thôn và đàn gà thả vườn chiếm 65-70% tổng đàn gà cả nước (Lê Hồng Mận, 2002) [120]. Giống gà thả vườn được nuôi bằng 3 phương thức như nuôi thả hoàn toàn, nuôi bán chăn thả và nuôi nhốt hoàn toàn (Dương Thanh Liêm, 2003) [62]. Kết quả phân tích của Nguyễn Quốc Nghi và ctv. (2011) [162] cho thấy nuôi gà thả vườn bán công 3 nghiệp ở ĐBSCL mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho người nuôi và cần mở rộng qui mô sản xuất để tăng thu nhập cho nông hộ.
Giống gà thả vườn được nuôi phổ biến ở ĐBSCL bao gồm gà Tàu Vàng, gà Nòi, gà Ác, gà Tre, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng…, trong đó giống gà Nòi được người dân nuôi nhiều nhất (Nguyễn Văn Quyên, 2008c) [170]. Những hộ nuôi bán chăn thả với qui mô nhỏ đã chọn mua con giống tại địa phương, còn hộ nuôi với qui mô lớn thì chọn con giống tại các Trung tâm sản xuất con giống (Nguyễn Quốc Nghi và ctv. Một trong các giống gà bản địa được chọn nuôi theo phương thức thả vườn ở các địa phương miền Bắc là gà H'mông. Gà H’mông chứa gen quý và thịt có giá trị dinh dưỡng cao và ngọt nhờ hàm lượng axit amin cao (Lương Thị Hồng và ctv.
Năm 2000, Chu Khôi (2010) [36] cho biết kinh phí của dự án "Bảo tồn các giống vật nuôi có vốn gen quý hiếm tại Việt Nam", TS. Võ Văn Sự đã chủ trì đề tài và Viện Chăn nuôi đã nuôi thích nghi thành công giống gà H’mông tại Hà Nội. Năm 2003 Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn đã giao Viện Chăn nuôi thực hiện dự án “Hoàn thiện quy trình công nghệ chăn nuôi vịt Bầu Quỳ và gà H’mông”, sau đó giống gà H’mông được liệt vào danh sách nuôi giữ giống gốc. Xã Cò Nòi (huyện Hát Lót - Sơn La) đã nhận từ Viện Chăn nuôi 1.000 con giống gà H‘mông, đưa vào chăn nuôi theo hướng hàng hoá.
Công ty Giống vật nuôi quý hiếm Hà Khánh (thôn Thái Thông, xã Vĩnh Thái, thành phố Nha Trang) đang liên kết với nông dân ở Nha Trang, chăn nuôi bao tiêu sản phẩm giống gà H’mông, với quy mô đàn hiện tại 70. Công ty TNHH Lạc Hoà (xã Tiến Xuân, Lương Sơn, Hoà Bình) hiện liên kết với 20 hộ nông dân nuôi gà H'mông, quy mô đàn 30 ngàn con. Mỗi hộ nông dân chăn nuôi gia công cho Công ty 1. Tại ĐBSCL, gà H’mông được nuôi từ năm 2010 tại tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long, gà dễ nuôi và tỉ lệ hao hụt thấp (Trần Trọng Trung, 2011) [226] và sau đó lan dần sang nhiều tỉnh khác.
Như vậy, gà H’mông hiện nay được nuôi rộng rãi từ Bắc vào Nam. Thức ăn được sử dụng nuôi gà thả vườn tại ĐBSCL có 3 nguồn như thức ăn nguyên liệu của địa phương, thức ăn công nghiệp và thức ăn có sẵn trong vườn. Thức ăn có sẵn trong vườn gồm các loại hạt, các loại cỏ tươi, các loại sâu bọ và côn trùng (Nguyễn Hữu Tỉnh, 1999) [160]. Tấm gạo được nông hộ sử dụng để nuôi gà Nòi con và lúa nguyên hạt được dùng để nuôi gà giò, gà trưởng thành và gà sinh sản (Nguyễn Văn Quyên, 2008c) [170].
Kết quả nghiên cứu của Đỗ Võ 4 Anh Khoa và Nguyễn Minh Thông (2012) [66] cho thấy hầu hết thức ăn công nghiệp đang có ngoài thị trường đều đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho gà Tàu Vàng giai đoạn úm, tỉ lệ nuôi sống của gà 1-4 tuần tuổi với các loại thức ăn công nghiệp không khác biệt và đạt tỉ lệ 97,92%. Tỉ lệ nhiễm bệnh trên gà nuôi thả hoàn toàn là 75%, cao hơn gà nuôi bán chăn thả 69,23% và nuôi nhốt hoàn toàn 36,57%. Nguyên nhân gà nuôi thả hoàn toàn mắc bệnh cao là do gà được thả để tự kiếm thức ăn nên nguy cơ nhiễm mầm bệnh từ môi trường bên ngoài cao (Hồ Thị Việt Thu, 2012) [91]. Một trong những loại bệnh nguy hiểm là bệnh Newcastle, bệnh này được lưu hành từ lâu và suốt từ Bắc đến Nam (Nguyễn Vĩnh Phước và ctv.
Một số nghiên cứu ở ĐBSCL cũng cho thấy tỉ lệ mắc bệnh Newcastle ở những đàn gà không được tiêm phòng là rất cao: 58% ở An Giang (Mai Hoàng Việt, 1998) [132] và 47,4% ở Đồng Tháp (Dương Nghĩa Quốc, 2007) [60]. Gà được nuôi thả vườn chiếm khoảng 70% trong ngành chăn nuôi gà và nó đóng góp lớn vào phát triển kinh tế của đất nước. Hơn nữa, gà thả vườn của Việt Nam có nguồn gen đa dạng và thịt gà thả vườn đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng và phù hợp với ẩm thực của người Việt. Trong khi chi phí thức ăn chiếm 60-90% tổng chi phí sản xuất gà thả vườn (Gunaratne et al.