Chương 1 ỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. ổng quan về c c công trình đã công bố về đặc điểm lâm học và gây trồng tre, trúc 1. Trên thế giới * N ữn n ên cứu về p ân loạ p ân bố tre trúc trên t ế ớ Các nghiêu cứu về tre trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng. Đầu tiên phải kể tới ấn phẩm nghiên cứu về tre trúc của Munro (1868).
Sau đó có nghiên cứu về các loài tre trúc Ấn Độ (Gamble 1896) trong đó tác giả mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số nước láng giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Indonesia. Tác giả c ng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Tổ chức FAO (1992), (2007) đã đưa ra danh lục 192 loài, c ng như đặc điểm phân bố theo đai độ cao của một số loài tre trúc. Nghiên cứu về chi Dendrocalamus làm cơ sở để phân loại một số loài trong chi ở Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á (Hsueh, C.
Widjaja (1995), [37] khi giới thiệu về tài liệu tre trúc của Đông Nam Á đã đề cập tới các thông tin về tên khoa học, tên địa phương, phân bố địa lí của loài, giá trị sử dụng, đặc điểm nhận biết qua hình thái và thông tin vắn tắt về sinh thái một số loài, như đối với loài Bương (Dendrocalamus giganteus) có mọc tự nhiên ở cao nguyên nhiệt đới ẩm trên 1.200 m tuy nhiên có thể mọc ở rừng thấp nhiệt đới ẩm, có tầng đất dày nhiều mùn. Tại Thái Lan đã phát hiện thấy loài này mọc ở rừng cây Tếch. Ở đảo Hải Nam rất gần với Việt Nam đã phát hiện được 46 loài tre nứa, trong đó có 38 loài phân bố tự nhiên, chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Phyllostachys và Sasa; tại tỉnh Vân Nam có 250 loài đã được phát hiện, diện tích tre nứa đạt tới 331000 ha, riêng loài Phyllostachys heterocycta var. pubescens chiếm 80% diện tích kể trên (Tác giả Zhou Fangchun 2000).
Tewari [38] đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80% rừng tre trúc phân bố ở Châu Á, tất cả các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới của thế giới đều có tre trúc xuất hiện. Độ cao phân bố của chúng từ sát biển lên tới 4000 m. Tác giả đã xây dựng được vùng phân bố chung cho tre trúc và bản đồ phân bố một số chi tre trúc quan trọng của thế giới. Nhìn vào bản đồ phân bố này có thể thấy được trung tâm phân bố tre trúc tập trung vào giải nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nh ở Bắc Mỹ.
Tewari (2001) [38] thì Ấn Độ là nước có diện tích tre trúc lớn nhất thế giới, khoảng 2 triệu ha, phân bố từ sát biển lên tới độ cao 3. Có 50% số loài tập trung phân bố ở phía Tây Ấn Độ, đa số các loài có thân mọc cụm như Bambusa, Dendrocalamus, Gigantochloa, Oxytenanthera. Tác giả c ng đưa ra dẫn liệu về độ cao phân bố của một số loài cụ thể, nhưng không thấy đề cập các loài trong chi Indosasa. Ramanatha Rao (1999) [35] đã đưa ra một số kết quả về nghiên cứu có liên quan tới một số nhân tố sinh thái: Loại đất, hàm lượng mùn trong đất, lượng mưa, số ngày mưa trong năm của 19 loài tre trúc của Trung Quốc.
Công trình “Bamboo red scovered” của Victor Cusack (1997) [39] đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định. Tổ chức Plant Resources of South - East Asia (Prosea) xuất bản tập “Prosea 7: Bamboos” (1995) [37] đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á. Fu Maoyi et al (2000) [31] với “Cult vat on & Ut l zat on on Bamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: Độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh. Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh.
* N ữn n ên cứu về kỹ t uật n ân ốn tre trúc Theo nghiên cứu của A. Ramanatha (1999) [35] cho thấy nhân giống sinh dưỡng là phương pháp có thể áp dụng với hầu hết các loài tre. Nhân giống bằng phương pháp giâm hom cành là một phương pháp có thể sử dụng với tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương pháp phổ biến cho các vườn ươm thương mại với quy mô lớn. Phương pháp này thường được sử dụng cho các loài có rễ khí sinh tại gốc của các cành ngang.
Các nghiên cứu c ng chỉ ra rằng cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn cành nh. Nghiên cứu của Fu Maoyi và các cộng sự (2000) [31] về giâm hom bằng cành c ng cho thấy chọn cành để giâm hom tốt nhất có độ tuổi 1- 2 năm và lấy từ cây 3 năm tuổi. Kích thước hom dài từ 40 - 50 cm, có từ 2 đến 3 đốt, khi giâm hom được đặt nghiêng so với luống và lấp đất dày từ 5 - 6 cm, để đầu trên của cành trồi lên kh i mặt đất. Luống giâm hom nên được che phủ bằng lá hoặc rơm rạ và tưới nước đủ ẩm hàng ngày.
Tác giả cho rằng nhân giống bằng hom cành có nhiều thuận lợi, sẽ không hoặc có rất ít tổn thương và khả năng ra măng ở gốc cây mẹ. Thời vụ giâm hom có thế tiến hành vào tháng 2 đến tháng 9 hàng năm, tốt nhất từ tháng 2 - 3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành lấy hom có kích cỡ nh thường dễ dàng xử lý, vận chuyển và có chi phí thấp hơn cành lớn. Trồng cây hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nghiên cứu của Victor Cusack (1997) [39] cho thấy, nhân giống bằng gốc có thể đạt được tỷ lệ sống 100%.
Tuy nhiên, chỉ nên áp dụng cho những loài tre có kích thước nh. Trong phương pháp này, gốc được đào bao gồm rễ và phần đất xung quanh, mỗi gốc có từ 3 - 4 mắt, phần trên của thân khí sinh để lại từ 3 - 4 đốt. Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô cho các loài tre c ng đã được một số nước trên thế giới thử nghiệm và đã đạt được những thành công bước đầu. Trung tâm nghiên cứu tre Trung Quốc (2008) đã đưa ra một số loại môi trường và mô cấy.
Nghiên cứu của Zhou Fangchun (2000) [40] chỉ ra rằng sử dụng giống gốc thích hợp cho các loài thuộc các chi Bambusa, Dendrocalamus, Sinocalamus… Gốc được lựa chọn từ những cây khoẻ mạnh, từ 2 - 3 năm tuổi, không sâu bệnh. Chọn gốc có một ít rễ, cắt phần thân khí sinh chỉ để lại chiều dài khoảng 1m, giữ lại rễ, thân ngầm và 5 - 6 cành lá ở các đốt gần gốc. Nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu tre Trung Quốc năm 2008 [30] đã cho thấy sử dụng các hom cành to cho tỷ lệ sống cao và đạt tới 83,75% nếu sử dụng cành nh tỷ lệ sống rất thấp, chỉ khoảng 10%. Hom cành lấy ở 1 năm tuổi, có trên 2 mắt, đường kính cành khoảng 1 cm, chiều dài hom khoảng 30 cm và cắt vát ở phần trên với góc 45 độ để lại 3 - 5 lá trên cành là tốt nhất.
Ở Việt Nam * N ữn n ên cứu về p ân bố p ân loạ tre trúc Nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam đã được bắt đầu từ khá lâu. Có thể nói công trình đầu tiên nghiên cứu về tre trúc Việt Nam thuộc về một người Pháp trong ấn phẩm nghiên cứu về thực vật chí Đông Dương (Le Comte 1923). Trong những năm 1960, Phạm Quang Độ đã nghiên cứu về kỹ thuật trồng và khai thác tre trúc ở Việt Nam (Phạm Quang Độ 1963) [7]. C ng từ thời gian này, các nghiên cứu về phân loại, kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng tre trúc, kỹ thuật chế biến, bảo quản tre trúc c ng được thực hiện.
Từ năm 1971 tới 2007 đã có tới trên 18 công trình nghiên cứu lớn và nh liên quan tới phân loại, đặc điểm nhận biết và phân bố của các loài tre trúc, các loại và cấu trúc rừng tre trúc ở Việt Nam. Các nghiên cứu này phần lớn là các nghiên cứu độc lập về hình thái, giải phẫu, nhận biết, phân bố và công dụng của một số loài tre trúc. Cây c Việt Nam là cuốn sách do tác giả Phạm Hoàng Hộ soạn thảo và được xuất bản năm 1999 tại Nhà xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh [13] là một cuốn từ điển có thể nói là đã liệt kê và mô tả được nhiều loài tre nhất với 18 chi và 126 loài tre có đề cập đến chi Dendrocalamus. Nghiên cứu về “T n uyên tre V ệt Nam” của Nguyễn Tử Ưởng năm 2001 [29] đã cung cấp những thông tin tổng hợp về giá trị kinh tế, diện tích, kiểu sống và trữ lượng loài, phân bố, nguy cơ tuyệt chủng và các hoạt động nghiên cứu phổ biến kỹ thuật về Tre ở Việt Nam.
Nghiên cứu c ng đã cung cấp cho chúng ta có một cái nhìn tổng quan về tài nguyên Tre, và các hoạt động nghiên cứu sử dụng Tre ở Việt Nam. Từ năm 1980 đến nay, tại các khu vực thuộc đồi núi của tỉnh Hòa Bình đặc biệt là dọc lưu vực lòng hồ thủy điện sông Đà, các huyện vùng thấp như Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Thủy đã đưa cây Luồng (Dendrocalamus membranaceus Munro) trở thành cây trồng m i nhọn ở địa phương. Diện tích trồng Luồng của tỉnh đạt 103.640 ha gồm rừng trồng sản xuất, rừng phòng hộ với hình thức trồng tập trung hay phân tán.