Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu tại Việt Nam" của tác giả Phan Thị Đỗ Quyên được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Mạnh Toàn và TS. Đặng Tùng Lâm tại Đại học Đà Nẵng (năm 2018), thuộc chuyên ngành Kế toán (Mã số: 62.01).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của tính thông tin của giá cổ phiếu (stock price informativeness) đối với hiệu quả phân bổ vốn trong nền kinh tế, hỗ trợ nhà quản trị nhận diện phản ứng của thị trường và giảm thiểu rủi ro thông tin cho nhà đầu tư. Trên thế giới, mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu tồn tại hai luồng quan điểm trái ngược nhau: một luồng cho rằng điều chỉnh lợi nhuận làm tăng tính thông tin thông qua cơ chế giao dịch của nhóm có lợi thế thông tin nội bộ; luồng khác cho rằng điều chỉnh lợi nhuận làm giảm tính minh bạch, gia tăng chi phí thu thập thông tin và làm giảm tính thông tin của giá cổ phiếu. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là hầu hết các công trình thực nghiệm trước đây được tiến hành tại các quốc gia phát triển có môi trường thể chế hoàn thiện. Trong khi đó, tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam – nơi môi trường thể chế đang hoàn thiện, quyền lợi nhà đầu tư chưa được bảo vệ đầy đủ và việc thực thi luật giao dịch nội gián còn hạn chế – chưa có nghiên cứu thực nghiệm trực tiếp nào về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu được ghi nhận.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là đánh giá tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến tính thông tin của giá cổ phiếu, hành vi điều chỉnh lợi nhuận và mối quan hệ giữa hai yếu tố này.
  2. Lựa chọn phương pháp phù hợp nhằm đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu và nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  3. Thiết lập mô hình kinh tế lượng để kiểm định thực chứng mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra: Mức độ điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có ảnh hưởng như thế nào đến tính thông tin của giá cổ phiếu?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tính thông tin của giá cổ phiếu, hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết.
  • Phạm vi không gian: Dữ liệu thu thập từ các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), loại trừ các ngân hàng.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2014.
  • Phạm vi nội dung: Luận án giới hạn phân tích ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu; không phân tích cơ chế trung gian truyền dẫn tác động.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh hai nội dung chính: các nhân tố tác động đến tính thông tin của giá cổ phiếu và mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận với tính thông tin của giá cổ phiếu.

Ở góc độ các nhân tố ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu, tác giả phân chia thành hai nhóm:

  • Nhóm nhân tố vĩ mô: Morck, Yeung & Yu (2000) chứng minh giá cổ phiếu có tính thông tin thấp ở các nước đang phát triển do thể chế yếu và thiếu cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Jin & Myers (2006) chỉ ra sự thiếu minh bạch thông tin kết hợp với bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư yếu kém làm giảm tính thông tin của giá cổ phiếu. Li và cộng sự (2004) khẳng định mức độ hội nhập thị trường vốn thấp làm giảm tính thông tin của giá cổ phiếu. Fernandes & Ferreira (2009) đánh giá việc thực thi luật giao dịch nội gián có tác động cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu, đặc biệt tại các nước phát triển. Brockman, Liebenberg & Schutte (2010) ghi nhận tính thông tin giá cổ phiếu giảm trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Eun, Wang & Xiao (2015) chỉ ra rằng văn hóa đề cao chủ nghĩa tập thể và nhiều ràng buộc làm tăng tính đồng biến động giá, dẫn đến tính thông tin thấp.
  • Nhóm nhân tố vi mô (đặc thù công ty): Piotroski & Roulstone (2004) và Chan & Hameed (2006) nhận thấy hoạt động của chuyên gia phân tích làm giảm tính thông tin do cung cấp nhiều thông tin thị trường hơn thông tin công ty, trong khi giao dịch của cổ đông nội bộ làm tăng tính thông tin. Ferreira & Laux (2007) cho thấy điều khoản chống thâu tóm thấp làm tăng tính thông tin. Fernandes & Ferreira (2008) chỉ ra việc niêm yết ra nước ngoài làm tăng tính thông tin ở các nước phát triển nhưng làm giảm ở các nước đang phát triển. Brockman & Yan (2009), Gul, Kim & Qiu (2010), An & Zhang (2013) ghi nhận vai trò của sở hữu cổ đông lớn và nhà đầu tư tổ chức trong việc cải thiện quản trị và nâng cao tính thông tin. Gul, Cheng & Leung (2011) kiểm định ảnh hưởng của chính sách tiền thưởng. Kim & Shi (2012) chứng minh việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) làm tăng tính thông tin của giá cổ phiếu. Haggard, Martin & Pereira (2008) khẳng định công bố thông tin tự nguyện giúp tăng tính thông tin. Dang, Moshirian & Zhang (2015) phân tích sự tương tác giữa truyền thông, thể chế và tính thông tin giá cổ phiếu.

Về mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu, các công trình trước đây hình thành hai trường phái đối lập:

  • Trường phái tác động cùng chiều: Dựa trên lập luận của Manne (1966) và Carlton & Fischel (1983), trong môi trường thể chế chưa hoàn thiện, khi nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận làm sai lệch báo cáo tài chính, những người nội bộ nắm giữ lợi thế thông tin sẽ thực hiện giao dịch cổ phiếu. Giao dịch dựa trên thông tin này giúp chuyển hóa thông tin đặc thù vào giá, làm gia tăng tính thông tin của giá cổ phiếu. Quan điểm này được củng cố bởi các nghiên cứu thực nghiệm của Zarowin (2002) và Rajgopal & Venkatachalam (2011).
  • Trường phái tác động ngược chiều: Dựa trên mô hình của Grossman & Stiglitz (1980), Jin & Myers (2006) và Hutton, Marcus & Tehranian (2009), điều chỉnh lợi nhuận làm giảm chất lượng và tính minh bạch của thông tin kế toán, làm tăng chi phí thu thập thông tin đặc thù của nhà đầu tư bên ngoài, dẫn đến suy giảm các giao dịch dựa trên thông tin và làm giảm tính thông tin của giá cổ phiếu. Kết quả này được ủng hộ bởi Fan & Wong (2002), Jing (2007), Johnston (2009), Gul, Kim & Qiu (2010).
Hướng nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Luận điểm chính
ĐCLN làm tăng tính thông tin của giá cổ phiếu Manne (1966), Carlton & Fischel (1983), Zarowin (2002), Rajgopal & Venkatachalam (2011) Giao dịch nội gián của nhóm có thông tin nội bộ giúp phản ánh thông tin đặc thù vào giá cổ phiếu trong bối cảnh thông tin BCTC bị bóp méo.
ĐCLN làm giảm tính thông tin của giá cổ phiếu Grossman & Stiglitz (1980), Jin & Myers (2006), Jing (2007), Johnston (2009), Hutton, Marcus & Tehranian (2009) ĐCLN làm giảm tính minh bạch, tăng rủi ro và chi phí thông tin, cản trở nhà đầu tư bên ngoài giao dịch dựa trên thông tin đặc thù.
Môi trường thể chế và tính thông tin giá cổ phiếu Morck, Yeung & Yu (2000), Li và cộng sự (2004), Fernandes & Ferreira (2009), Dang, Moshirian & Zhang (2015) Môi trường thể chế yếu, bảo vệ nhà đầu tư kém và hội nhập thấp dẫn đến tính thông tin của giá cổ phiếu thấp.
Quản trị công ty và môi trường thông tin vi mô Piotroski & Roulstone (2004), Ferreira & Laux (2007), Brockman & Yan (2009), Kim & Shi (2012) Cơ chế quản trị, sở hữu tổ chức, áp dụng IFRS và công bố thông tin tự nguyện làm gia tăng tính thông tin của giá cổ phiếu.

Vị trí của luận án: Luận án đặt mình vào khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại các thị trường mới nổi, lựa chọn bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam để kiểm chứng chiều hướng tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu dưới môi trường thể chế đặc thù.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm nền tảng

Luận án vận dụng ba lý thuyết nền tảng trong nghiên cứu kế toán và tài chính:

  • Lý thuyết thông tin bất đối xứng (Asymmetric Information Theory): Xuất phát từ nghiên cứu của Akerlof, Spence và Stiglitz (Riley, 2001; Gumanti, 1996; Teoh, Welch & Wong, 1998; Huang & Chiang, 2012). Lý thuyết giải thích việc nhà quản lý và cổ đông nội bộ nắm giữ nhiều thông tin đặc thù hơn các nhà đầu tư bên ngoài, dẫn đến hiện tượng lựa chọn đối nghịch (adverse selection) trước giao dịch và rủi ro đạo đức (moral hazard) sau giao dịch.
  • Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Phát triển bởi Jensen & Meckling (1976), Fama & Jensen (1983), Beatty và cộng sự (2002). Lý thuyết giải thích xung đột lợi ích phát sinh từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu (cổ đông) và quyền quản lý (ban giám đốc), thúc đẩy nhà quản trị thực hiện các hành vi tư lợi như điều chỉnh lợi nhuận.
  • Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory): Phát triển bởi Watts & Zimmerman (1990) và Beneish (2001). Lý thuyết dự báo các động cơ lựa chọn chính sách kế toán thông qua ba giả thuyết: giả thuyết tiền thưởng, giả thuyết hợp đồng nợ và giả thuyết chi phí chính trị (tác động điều tiết của Nhà nước, tối thiểu hóa chi phí thuế).

Về định nghĩa hành vi điều chỉnh lợi nhuận, luận án tiếp cận theo quan điểm của Healy & Wahlen (1999): việc nhà quản lý sử dụng đánh giá chủ quan trong quá trình lập báo cáo tài chính và thực hiện nghiệp vụ kinh tế nhằm làm cho các bên liên quan đánh giá sai lệch về hiệu quả kinh tế hoặc tác động đến các hợp đồng dựa trên số liệu kế toán. Hành vi này được thực hiện qua hai cơ sở: điều chỉnh dựa trên cơ sở kế toán dồn tích (accruals) và điều chỉnh thông qua các giao dịch thực (real transactions).

Kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận gồm: lựa chọn chính sách kế toán (ghi nhận doanh thu, tính giá hàng tồn kho, tính giá trị sản phẩm dở dang, phương pháp khấu hao TSCĐ, vốn hóa chi phí triển khai, phân loại thuê tài chính/thuê hoạt động, kế toán chi phí lãi vay); thực hiện ước tính kế toán (ước tính một lần và ước tính định kỳ mỗi kỳ); quyết định thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh tế; và vận dụng sai quy định kế toán.

Phương pháp nghiên cứu và đo lường biến

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng (panel data).

  1. Đo lường biến phụ thuộc - Tính thông tin của giá cổ phiếu ($Non_syn$): Dựa trên mô hình thị trường của Roll (1988), Morck, Yeung & Yu (2000) và Jin & Myers (2006), hồi quy tỷ suất lợi tức tuần của từng cổ phiếu theo tỷ suất lợi tức danh mục thị trường trong từng năm: $$r_{i,t} = \alpha + \beta r_{M,t} + \varepsilon_{i,t}$$ Trong đó $r_{i,t}$ là tỷ suất lợi tức của cổ phiếu $i$ tại tuần $t$, $r_{M,t}$ là tỷ suất lợi tức của danh mục thị trường. Giá trị $R^2$ đo lường phần biến động giá cổ phiếu do thị trường chung giải thích. Tính thông tin của giá cổ phiếu được xác định qua biến đổi logit: $$Non_syn_i = \log\left(\frac{1 - R^2}{R^2}\right)$$ Giá trị $Non_syn_i$ càng cao thể hiện giá cổ phiếu chứa đựng càng nhiều thông tin đặc thù của công ty.

  2. Đo lường biến độc lập - Hành vi điều chỉnh lợi nhuận ($DA$): Áp dụng mô hình Jones điều chỉnh trong nghiên cứu của Dechow, Sloan & Sweeney (1995). Tổng biến dồn tích ($Total\ Accruals$) được tính bằng chênh lệch giữa Lợi nhuận sau thuế và Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh. Biến dồn tích được tách thành Biến dồn tích không tùy ý ($NDA$) gắn với hoạt động thông thường và Biến dồn tích tùy ý ($DA$) phát sinh từ sự can thiệp chủ quan của nhà quản trị. Biến $DA$ được sử dụng làm đại diện cho mức độ điều chỉnh lợi nhuận.

  3. Biến kiểm soát và mô hình kinh tế lượng: Mô hình hồi quy gộp dữ liệu bảng (Pooled OLS) bổ sung các biến kiểm soát đặc thù công ty theo Chan & Hameed (2006), Dang, Moshirian & Zhang (2015), Fernandes & Ferreira (2008), Piotroski & Roulstone (2004) bao gồm: quy mô công ty, tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), độ bất ổn định của lợi tức cổ phiếu. Biến độc lập được đưa vào mô hình dưới dạng giá trị trễ (lagged) để kiểm soát khả năng nội sinh do tác động ngược chiều. Mô hình kiểm soát hiệu ứng cố định ngành và hiệu ứng cố định năm. Để xử lý hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, tác giả sử dụng sai số chuẩn robust phân cụm theo từng công ty (cluster robust standard errors) theo phương pháp của Petersen (2009).

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Phần Mở đầu thiết lập cơ sở khoa học của đề tài: trình bày tính cấp thiết, xác định khoảng trống nghiên cứu tại thị trường chứng khoán Việt Nam, công bố mục tiêu nghiên cứu và 3 nhiệm vụ cụ thể, thiết lập câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu (dữ liệu phi tài chính trên HOSE và HNX giai đoạn 2007-2014), nêu rõ phương pháp tiếp cận định lượng, mô tả khung nghiên cứu và tóm tắt các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn.

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu

Chương này được kết cấu thành 4 phần:

  • Phần 1 hệ thống hóa các khái niệm, ý nghĩa kinh tế và các phương pháp đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu (mô hình thị trường $R^2$, xác suất giao dịch dựa trên thông tin PIN); tổng hợp các nhân tố vĩ mô và vi mô chi phối tính thông tin giá cổ phiếu.
  • Phần 2 trình bày cơ sở lý thuyết về điều chỉnh lợi nhuận: định nghĩa theo Healy & Wahlen (1999); các động cơ điều chỉnh lợi nhuận (thu nhập nhà quản trị, thu hút tài trợ, tránh vi phạm hợp đồng, giảm can thiệp điều tiết, tối thiểu hóa thuế); các lý thuyết giải thích (bất đối xứng thông tin, đại diện, kế toán thực chứng); phân tích cơ sở kế toán dồn tích và giao dịch thực; phân loại chi tiết các kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận và nguyên lý mô hình biến dồn tích ($DA$ và $NDA$).
  • Phần 3 phân tích hai luồng quan điểm đối lập về mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu trên thế giới.
  • Phần 4 đúc kết khoảng trống nghiên cứu, đặt nền móng lý luận cho việc xây dựng giả thuyết nghiên cứu trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương này xây dựng giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu tại Việt Nam. Tác giả thiết lập mô hình kinh tế lượng thực nghiệm, chi tiết hóa phương pháp tính toán biến phụ thuộc $Non_syn$ từ mô hình thị trường tuần, ước lượng biến độc lập $DA$ thông qua mô hình Jones điều chỉnh của Dechow và cộng sự (1995), và lựa chọn các biến kiểm soát đặc thù doanh nghiệp. Chương này cũng mô tả quy trình thu thập dữ liệu bảng của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2007-2014 (loại trừ ngân hàng) và các kỹ thuật xử lý dữ liệu (loại trừ giá trị ngoại lai, ước lượng sai số chuẩn phân cụm Petersen, kiểm soát hiệu ứng cố định ngành và năm).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ kết quả thực nghiệm thông qua hệ thống bảng biểu và phân tích kinh tế lượng:

  • Trình bày thống kê mô tả và phân tích biến động tính thông tin của giá cổ phiếu ($Non_syn$) theo năm, theo ngành và theo Sở giao dịch (HOSE và HNX) giai đoạn 2007-2014 (các Bảng 3.3 đến 3.8, Hình 3.2, 3.3).
  • Trình bày kết quả đo lường và đặc trưng hành vi điều chỉnh lợi nhuận ($DA$) của các công ty niêm yết, phân tích phân vị biến $DA$, phân loại theo ngành và theo hai Sở giao dịch (các Bảng 3.9 đến 3.12, các Hình 3.4 đến 3.9).
  • Trình bày thống kê mô tả các biến nghiên cứu (Bảng 3.13) và ma trận hệ số tương quan (Bảng 3.14).
  • Cung cấp kết quả hồi quy kiểm định ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu (Bảng 3.15). Kết quả thực nghiệm khẳng định hành vi điều chỉnh lợi nhuận có tác động thuận chiều (cùng chiều) có ý nghĩa thống kê đến tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Việt Nam.
  • Thực hiện các kiểm định độ bền vững (robustness checks): kiểm soát biến trễ phụ thuộc trong mô hình (Bảng 3.16), kiểm soát ảnh hưởng cố định Sở Giao dịch (Bảng 3.17), và kiểm soát ảnh hưởng cố định công ty (Bảng 3.18). Kết quả kiểm định độ bền vững khẳng định tính ổn định của mối quan hệ thuận chiều đã phát hiện.

Chương 4: Một số khuyến nghị đối với các bên liên quan

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, chương này đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách cụ thể cho 3 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý Nhà nước: hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch thông tin, tăng cường giám sát và thực thi nghiêm ngặt luật giao dịch nội gián, hoàn thiện chuẩn mực kế toán.
  • Nhà quản trị công ty: cải thiện chất lượng công bố thông tin, giảm thiểu hành vi bóp méo số liệu kế toán nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và tối ưu hóa giá trị công ty.
  • Nhà đầu tư: nâng cao năng lực phân tích báo cáo tài chính, nhận diện dấu hiệu điều chỉnh lợi nhuận từ biến dồn tích, thận trọng trước rủi ro bất đối xứng thông tin khi đưa ra quyết định phân bổ danh mục đầu tư.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả nghiên cứu chính

Kết quả thực nghiệm của luận án chỉ ra rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận có tác động thuận chiều (cùng chiều) đến tính thông tin của giá cổ phiếu tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007-2014. Kết quả này ủng hộ quan điểm lý thuyết của Manne (1966), Carlton & Fischel (1983) và các bằng chứng của Zarowin (2002), Rajgopal & Venkatachalam (2011). Trong bối cảnh thể chế của một thị trường đang phát triển như Việt Nam, khi báo cáo tài chính bị bóp méo bởi hành vi điều chỉnh lợi nhuận, thông tin đặc thù công ty được chuyển hóa vào giá cổ phiếu chủ yếu thông qua các giao dịch của những đối tượng có lợi thế thông tin nội bộ.

Đóng góp mới về mặt học thuật

  • Bổ sung bằng chứng thực nghiệm vào kho tàng học thuật về mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu tại một quốc gia đang phát triển.
  • Làm rõ vai trò chi phối của môi trường thể chế và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư đối với chiều hướng tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến hiệu quả thông tin của thị trường chứng khoán.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam đánh giá toàn diện đặc trưng tính thông tin của giá cổ phiếu ($Non_syn$) và mối liên hệ với hành vi điều chỉnh lợi nhuận ($DA$) trên tập dữ liệu bảng quy mô lớn bao gồm cả HOSE và HNX trong 8 năm (2007-2014).
  • Cung cấp cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách thị trường vốn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị và cung cấp khuyến nghị thực tế cho nhà đầu tư trong việc nhận diện rủi ro thông tin.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu, chưa phân tích thực nghiệm các kênh/cơ chế trung gian truyền dẫn tác động (như đo lường trực tiếp hành vi giao dịch nội gián). Mẫu nghiên cứu giới hạn ở các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2007-2014, chưa bao gồm các tổ chức tài chính - ngân hàng và các giai đoạn biến động sau 2014.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng chuỗi dữ liệu thời gian; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế truyền dẫn của các giao dịch nội gián; hoặc kiểm định so sánh trên các nhóm ngành đặc thù và các thị trường mới nổi lân cận.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu ngành Kế toán, Kiểm toán và Tài chính: Tham khảo phương pháp luận ước lượng tính thông tin giá cổ phiếu bằng mô hình biến đổi logit từ $R^2$, phương pháp tách biến dồn tích tùy ý ($DA$) bằng mô hình Jones điều chỉnh, và kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng xử lý sai số chuẩn phân cụm theo Petersen (2009).
  • Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho các học phần Kế toán tài chính nâng cao, Lý thuyết kế toán thực chứng, Phân tích báo cáo tài chính và Thị trường tài chính.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở Giao dịch Chứng khoán): Tham khảo căn cứ thực tiễn để hoàn thiện quy chế công bố thông tin, chuẩn mực kế toán và cơ chế kiểm soát giao dịch nội gián.
  • Nhà quản trị và nhà đầu tư: Tham khảo để nhận diện mức độ biến dồn tích và tính toán rủi ro thông tin trong định giá cổ phiếu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tính thông tin của giá cổ phiếu trong luận án được hiểu và đo lường như thế nào? Tính thông tin của giá cổ phiếu là lượng thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá trị được chứa đựng trong giá cổ phiếu. Luận án đo lường biến này gián tiếp qua mô hình thị trường của Roll (1988), trích xuất hệ số xác định $R^2$ từ hồi quy lợi tức tuần của cổ phiếu theo lợi tức thị trường, sau đó tính chỉ số $Non_syn = \log((1 - R^2)/R^2)$. Chỉ số $Non_syn$ càng cao thể hiện giá cổ phiếu chứa đựng càng nhiều thông tin đặc thù của doanh nghiệp.

  2. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận được lượng hóa bằng mô hình nào? Hành vi điều chỉnh lợi nhuận được đo lường thông qua biến dồn tích tùy ý ($DA$) ước lượng từ mô hình Jones điều chỉnh (Dechow, Sloan & Sweeney, 1995), dựa trên việc bóc tách Tổng biến dồn tích (chênh lệch giữa Lợi nhuận sau thuế và Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh) thành biến dồn tích không tùy ý ($NDA$) và biến dồn tích tùy ý ($DA$).

  3. Kết quả kiểm định thực nghiệm chính của luận án tại thị trường Việt Nam là gì? Kết quả kiểm định hồi quy gộp dữ liệu bảng (có kiểm soát biến trễ, hiệu ứng cố định ngành và năm, sai số chuẩn phân cụm theo công ty) cho thấy mức độ điều chỉnh lợi nhuận ($DA$) có ảnh hưởng thuận chiều (tác động dương) có ý nghĩa thống kê đến tính thông tin của giá cổ phiếu ($Non_syn$) của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX trong giai đoạn 2007-2014.

  4. Tại sao điều chỉnh lợi nhuận lại có tác động thuận chiều đến tính thông tin giá cổ phiếu tại Việt Nam? Luận án giải thích dựa trên đặc thù môi trường thể chế của quốc gia đang phát triển: khi tính minh bạch báo cáo tài chính bị suy giảm do điều chỉnh lợi nhuận và quyền lợi nhà đầu tư chưa được bảo vệ chặt chẽ, các nhà đầu tư nội bộ có lợi thế thông tin sẽ tiến hành các giao dịch cổ phiếu. Chính các giao dịch dựa trên thông tin nội bộ này đã phản ánh kịp thời các thông tin đặc thù công ty vào giá, khiến giá cổ phiếu mang tính thông tin cao hơn.

  5. Luận án sử dụng các kiểm định độ bền vững nào để đảm bảo tính xác thực của kết quả? Luận án thực hiện ba kiểm định độ bền vững: (1) Kiểm soát biến trễ phụ thuộc trong mô hình hồi quy (Bảng 3.16); (2) Kiểm soát ảnh hưởng cố định của Sở Giao dịch Chứng khoán (Bảng 3.17); (3) Kiểm soát ảnh hưởng cố định của từng công ty (Bảng 3.18). Tất cả các kiểm định đều xác nhận mối quan hệ thuận chiều giữa điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin giá cổ phiếu là bền vững.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phan Thị Đỗ Quyên là công trình nghiên cứu định lượng kiểm định mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu trên mẫu dữ liệu bảng các công ty niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2007-2014. Vận dụng mô hình Jones điều chỉnh và mô hình thị trường đo lường tính thông tin qua biến đổi logit của $R^2$, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định hành vi điều chỉnh lợi nhuận có tác động thuận chiều đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu làm rõ vai trò chi phối của bối cảnh thể chế thị trường đang phát triển đối với mối quan hệ thông tin kế toán - giá chứng khoán, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường và định hướng ra quyết định cho nhà đầu tư.