Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Theo Nghị quyết số 39/2021/QH15, diện tích đất nông nghiệp tại Việt Nam năm 2020 là 27.983,07 nghìn ha và dự kiến đến năm 2030 sẽ giảm 251,22 nghìn ha. Cùng với sự thu hẹp diện tích đất canh tác, sản xuất nông nghiệp truyền thống đang đối mặt với nhiều áp lực: phụ thuộc điều kiện thời tiết, áp lực sâu bệnh hại, suy giảm năng suất và nguy cơ mất an toàn thực phẩm do lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật. Trước bối cảnh đó, phương pháp canh tác thủy canh trong môi trường nhân tạo kết hợp chiếu sáng bằng đèn đi-ốt phát quang (LED) nổi lên như một giải pháp công nghệ cao nhờ các ưu điểm: kiểm soát môi trường chính xác, không chứa thủy ngân, dễ điều khiển số hóa và tiết kiệm điện năng.

Xà lách (Lactuca sativa L.) là loại rau ăn lá giàu vitamin, khoáng chất, lipid, protein và chất xơ, có nhu cầu tiêu thụ quanh năm. Mặc dù nhiều giống xà lách cao sản nhập nội đã được đưa vào sản xuất tại Đà Lạt, Bắc Ninh, Hải Phòng, song giá thành hạt giống nhập khẩu còn cao và các nghiên cứu về canh tác xà lách thủy canh hoàn toàn dưới ánh sáng đèn LED trong phòng kín tại Việt Nam vẫn còn hạn chế.

Đề tài "Ảnh hưởng của giống và thời gian chiếu sáng đến sinh trưởng, năng suất xà lách (Lactuca sativa L.) thủy canh" được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:

    • Xác định giống xà lách có khả năng sinh trưởng mạnh, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn giống đối chứng khi trồng thủy canh.
    • Xác định thời gian chiếu sáng bằng đèn LED thích hợp cho giống xà lách được tuyển chọn nhằm tối ưu hóa năng suất và hiệu quả kinh tế.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Bố trí thí nghiệm đúng phương pháp; theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao cây, số lá, diện tích lá, đường kính tán), các chỉ tiêu cảm quan và các yếu tố cấu thành năng suất của 4 giống xà lách.
    • Theo dõi phản ứng sinh trưởng và năng suất của giống xà lách triển vọng dưới 4 mức thời gian chiếu sáng khác nhau.
    • Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức giống và thời gian chiếu sáng.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: 4 giống xà lách gồm Sunni (Nhật Bản), Cherokee (Mỹ), Green Lollo (Đài Loan), Việt Thái (Việt Nam - đối chứng) và 4 mức thời gian chiếu sáng (10, 12, 14, 16 giờ/ngày).
    • Phạm vi không gian: Phòng tối có điều hòa nhiệt độ tại Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Phạm vi thời gian: Từ tháng 05/2023 đến tháng 08/2023 (Nội dung 1: 05/2023 – 15/06/2023; Nội dung 2: 16/06/2023 – 08/2023).
    • Giới hạn đề tài: Nghiên cứu không thực hiện phân tích các chỉ tiêu phẩm chất hóa sinh của rau xà lách.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở sinh lý thực vật học của cây xà lách (Lactuca sativa L., họ Asteraceae) và cơ chế quang hợp dưới bức xạ quang phổ hẹp của đèn LED:

  • Đặc điểm sinh thái: Xà lách là cây thân thảo, hệ rễ cọc ăn nông, thích ứng với khí hậu mát. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng sinh dưỡng là 15 – 18°C (20°C ban ngày và 18°C ban đêm; trên 22°C làm vống mầm và giảm chất lượng bắp/lá). Cây có quang chu kỳ ngày dài (>12 giờ/ngày), ẩm độ đất/cơ chất tối thích 70 – 80%, ẩm độ không khí 65 – 75%, pH môi trường 6,0 – 6,5.
  • Cơ chế tác động quang phổ: Diệp lục hấp thu mạnh ở dải bức xạ đỏ (600 – 700 nm) và xanh dương (420 – 470 nm). Ánh sáng xanh dương kích thích quang khử NADP, hoạt hóa enzyme RPD-carboxylase và hình thành lục lạp, trong khi ánh sáng đỏ tối ưu hóa hiệu suất quang hợp tổng hợp sinh khối.
Mô hình thí nghiệm: 

Phương pháp và bố trí thực nghiệm:

  • Thiết kế thí nghiệm: Hai thí nghiệm đơn yếu tố kế thừa, bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 3 lần lặp lại.
    • Thí nghiệm 1: 4 nghiệm thức giống (Sunni, Cherokee, Green Lollo, Việt Thái) dưới thời gian chiếu sáng cố định 12 giờ/ngày.
    • Thí nghiệm 2: 4 nghiệm thức thời gian chiếu sáng (10, 12, 14, 16 giờ/ngày) trên giống Cherokee.
  • Hệ thống canh tác: Giàn thủy canh hồi lưu 4 tầng (kích thước kệ: dài 145 cm, rộng 85 cm, cao 180 cm; khoảng cách tầng 40 cm). Dung dịch dinh dưỡng được chứa trong bồn 100 lít, bơm xả định kỳ 2 giờ/lần (6 lần/ngày, bắt đầu từ 8 giờ sáng). Bè nổi làm bằng mút xốp dày 1,5 cm, đặt trên khay gạch 135 x 75 x 6,5 cm (diện tích ô thí nghiệm 1 m²). Mật độ bố trí: 24 cây/ô (8 hàng x 3 cây, khoảng cách 15 x 15 cm), tương đương mật độ tính toán 44 cây/m². Tổng quy mô mỗi thí nghiệm gồm 12 ô (288 cây).
  • Hệ thống chiếu sáng: Đèn LED thanh Philips (Ba Lan, 28 W/dãy, góc chiếu 120°), tỷ lệ phối phổ gồm 50% đỏ (680 nm) + 25% xanh dương (460 nm) + 25% trắng (400 – 700 nm). Khoảng cách từ mặt đèn đến ngọn cây là 40 cm, cường độ chiếu sáng duy trì từ 180 đến 240 µmol/m²/s. Giữa các ô thí nghiệm được ngăn bằng màng nilon đen để chống nhiễm chéo ánh sáng.
  • Dung dịch dinh dưỡng: Sử dụng công thức dinh dưỡng của Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM dựa trên De Kreij và ctv (1999), bao gồm các ion đa vi lượng: N (224 ppm), P (47 ppm), K (371 ppm), Ca (180 ppm), Mg (24 ppm), N-NH₄ (14 ppm), B (0,4 ppm), Mn (0,38 ppm), Fe (2,24 ppm), Mo (0,01 ppm), Cu (0,01 ppm), Zn (0,5 ppm). Nồng độ dinh dưỡng và độ dẫn điện (EC) được nâng dần theo tuổi cây:
    • 1 – 7 ngày sau trồng (NST): 450 ppm (EC 1,0 mS/cm).
    • 8 – 14 NST: 675 ppm (EC 1,5 mS/cm).
    • 15 – 21 NST: 900 ppm (EC 2,0 mS/cm).
    • 22 – 28 NST: 990 ppm (EC 2,2 mS/cm).
    • pH duy trì ổn định ở mức 6,2 trong suốt chu kỳ (điều chỉnh bằng KOH 1 g/100 L để tăng 0,5 pH hoặc HNO₃ 0,01 L/100 L để giảm 1,0 pH).
  • Thiết bị đo và xử lý dữ liệu: Bút đo pH/EC Hanna HI 98129, cân điện tử XF03 (độ chính xác 0 – 5000 g), máy đo hàm lượng diệp lục tố Hansatech Model CL-01 (bước sóng kép 620 nm và 940 nm). Số liệu được tính toán trung bình bằng Microsoft Excel, phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng Duncan/LSD ở mức ý nghĩa α = 0,05 và α = 0,01 bằng phần mềm thống kê R (phiên bản 4).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu trong nước và quốc tế về cây xà lách, công nghệ thủy canh và ứng dụng đèn LED trong nông nghiệp:

  • Nghiên cứu về giống: Trình bày các công bố của Li & Kubota (2009), Ki-Ho Son & Myung-Min Oh (2015), Sundar Sapkota và ctv (2019) về đáp ứng sinh khối và chuyển hóa nitrat, polyphenol của các giống xà lách dưới các nguồn sáng và nồng độ dinh dưỡng khác nhau. Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp các nghiên cứu so sánh giống xà lách thủy canh của Trần Thị Ba và ctv (2009), Nguyễn Văn Sang (2011), Lương Thị Lành (2012), Liêu Thị Hồng Anh (2015) và Đặng Thị Tố Nga và ctv (2020).
  • Nghiên cứu về chiếu sáng LED: Phân tích lý thuyết điểm bù/điểm bão hòa ánh sáng, vai trò của quang phổ đơn sắc (Hoàng Minh Tấn và ctv, 2006; Đinh Cát Điềm, 2014; Dương Tấn Nhựt, 2010; Matsuda và ctv, 2004). Đồng thời tổng hợp các kết quả thực nghiệm về thời gian và cường độ chiếu sáng LED trên cây xà lách của Jeong và ctv (2013), Lin và ctv (2013), Shimokawa và ctv (2014), Owen & Lopez (2015), Phan Ngọc Nhí và ctv (2016, 2019, 2020), Nguyễn Đặng Phương Hằng (2017) và Trần Thị Anh Thoa và ctv (2022).

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận, địa điểm, điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ 22 – 25°C, độ ẩm 70 – 85%), đặc tính nguồn gốc của 4 giống khảo nghiệm, quy cách hệ thống giàn 4 tầng, công thức hóa chất phối trộn dung dịch thủy canh A và B, sơ đồ bố trí đèn LED và quy trình kỹ thuật:

  • Hạt được ươm trong vỉ xốp 108 lỗ, phủ nilon đen giữ ẩm.
  • Cây con đạt 14 ngày sau gieo (2 – 3 lá thật) được cấy lên bè xốp thủy canh.
  • Theo dõi định kỳ 7 ngày/lần trên 5 cây cố định/ô theo đường chéo góc.
  • Thu hoạch tại thời điểm 30 NST. Quy trình đánh giá cảm quan được thực hiện qua hội đồng 10 người thử nếm độc lập theo thang điểm 1 – 5 về độ giòn, vị đắng và mức độ ưa thích.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ hai nội dung nghiên cứu thực nghiệm:

1. Khảo sát sinh trưởng và năng suất của 4 giống xà lách (Nội dung 1)

  • Khả năng nảy mầm: Tỷ lệ nảy mầm biến động từ 87% đến 99%. Giống Cherokee đạt tỷ lệ cao nhất (99%), thời gian nảy mầm 3 ngày sau gieo (NSG), tương đương Sunni (96%, 3 NSG). Giống Green Lollo đạt 92% (4 NSG) và Việt Thái đạt 87% (4 NSG). Cả 4 giống đều xuất hiện lá thật tại 14 NSG.
  • Động thái tăng trưởng:
    • Chiều cao cây ở 28 NST: Cherokee đạt cao nhất (16,6 cm/cây), tiếp theo là Sunni (14,3 cm/cây), Green Lollo (14,0 cm/cây) và Việt Thái (13,7 cm/cây), khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($F_{tinh} = 1,0^{ns}$).
    • Số lá ở 28 NST: Giống Việt Thái đạt số lá cao nhất (14,4 lá/cây), Cherokee đạt 12,7 lá/cây (khác biệt không có ý nghĩa so với Việt Thái), Sunni đạt 11,1 lá/cây và Green Lollo đạt 9,7 lá/cây ($F_{tinh} = 26,8^{**}$).
    • Đường kính tán ở 28 NST: Cherokee đạt 25,1 cm/cây, Green Lollo đạt 24,5 cm/cây, Việt Thái đạt 23,4 cm/cây và Sunni đạt 22,4 cm/cây.
    • Diện tích lá thứ 3: Cherokee đạt cao nhất với 215,5 cm², khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng Việt Thái (123,1 cm²).
    • Hàm lượng diệp lục tố: Việt Thái đạt cao nhất (10,4 µg/g), Cherokee đạt 9,4 µg/g, Green Lollo đạt 7,8 µg/g và Sunni thấp nhất (5,1 µg/g).
  • Chỉ tiêu cảm quan: Giống Sunni đạt điểm ưa thích cao nhất (5/5 điểm) nhờ độ giòn khá (4/5) và hoàn toàn không đắng (5/5). Giống Cherokee đạt mức khá thích (4/5 điểm) với độ giòn (3/5) và vị ít đắng (4/5). Green Lollo và Việt Thái đạt 3/5 điểm ở cả ba chỉ tiêu.
Chỉ tiêu theo dõi (tại 28 NST) Giống Sunni Giống Cherokee Giống Green Lollo Giống Việt Thái (ĐC) Mức ý nghĩa ($F_{tinh}$)
Chiều cao cây (cm/cây) 14,3 16,6 14,0 13,7 $1,0^{ns}$
Số lá (lá/cây) 11,1 12,7 9,7 14,4 $26,8^{**}$
Đường kính tán (cm/cây) 22,4 25,1 24,5 23,4 $0,67^{ns}$
Diện tích lá thứ 3 (cm²) 167,5 215,5 157,5 123,1 $4,8^{*}$
Hàm lượng diệp lục (µg/g) 5,5 9,4 7,8 10,4 $25,2^{**}$
Khối lượng TB (g/cây) 59,9 67,7 36,0 42,9 $41,3^{**}$
Năng suất lý thuyết (kg/m²) 2,6 3,0 1,6 1,9 $41,3^{**}$
Năng suất thực thu (kg/m²) 1,3 1,4 0,8 0,9 $59,8^{**}$
Tỷ lệ tăng NSTT so với ĐC (%) +44,4 +55,6 - - -
Tổng thu (đồng/tầng/m²) 104.000 112.000 64.000 72.000 -
Tổng chi (đồng/tầng/m²) 634.133 636.133 634.133 626.133 -
Lợi nhuận (đồng/tầng/m²) -530.133 -524.133 -570.133 -554.133 -

Ghi chú: Giá bán quy định 80.000 đồng/kg. Giống Cherokee cho năng suất thực thu và tổng thu cao nhất nên được chọn cho Thí nghiệm 2.

2. Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến giống xà lách Cherokee (Nội dung 2)

Khảo sát 4 chế độ chiếu sáng (10, 12, 14, 16 giờ/ngày) trên giống xà lách Cherokee cho thấy:

  • Chiều cao cây: Nghiệm thức 12 giờ/ngày (đối chứng) cho chiều cao cây lớn nhất tại 28 NST đạt 22,3 cm/cây, khác biệt có ý nghĩa thống kê so với 10 giờ/ngày (16,7 cm/cây) và 14 giờ/ngày (18,6 cm/cây).
  • Số lá: Nghiệm thức 12 giờ/ngày đạt số lá cao nhất (16,3 lá/cây), cao hơn rõ rệt so với 10 giờ/ngày (13,2 lá/cây). Thời gian chiếu sáng 14 giờ/ngày đạt 15,3 lá/cây và 16 giờ/ngày đạt 14,0 lá/cây do cây xà lách có xu hướng chuyển sớm sang giai đoạn phát triển hoa khi quang chu kỳ kéo dài.
  • Đường kính tán: Đạt cực đại ở nghiệm thức 12 giờ/ngày với 33,3 cm/cây, vượt trội so với 10 giờ/ngày (26,6 cm/cây), 14 giờ/ngày (29,4 cm/cây) và 16 giờ/ngày (29,3 cm/cây).
  • Diện tích lá và diệp lục tố: Nghiệm thức 12 giờ/ngày đạt diện tích lá thứ 3 lớn nhất (277,6 cm²) và hàm lượng diệp lục tố cao nhất (10,2 µg/g), khác biệt rất có ý nghĩa so với nghiệm thức 10 giờ/ngày (174,0 cm² và 9,2 µg/g).
Thời gian chiếu sáng (giờ/ngày) Chiều cao cây (cm) Số lá (lá/cây) Đường kính tán (cm) Diện tích lá (cm²) Diệp lục tố (µg/g) KLTB (g/cây) NSLT (kg/m²) NSTT (kg/m²) Tổng thu (đồng/tầng/m²) Tổng chi (đồng/tầng/m²)
10 16,7 13,2 26,6 174,0 9,2 53,9 2,4 1,3 104.000 616.433
12 (ĐC) 22,3 16,3 33,3 277,6 10,2 80,4 3,5 1,8 144.000 636.433
14 18,6 15,3 29,4 221,2 9,7 73,5 3,2 1,6 128.000 657.433
16 18,9 14,0 29,3 199,1 9,7 64,9 2,9 1,4 112.000 678.433
$F_{tinh}$ $18,9^{**}$ $6,7^{*}$ $7,7^{**}$ $6,1^{*}$ $14,2^{**}$ $18,9^{**}$ $18,9^{**}$ $20,4^{**}$ - -

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Tuyển chọn giống triển vọng: Giống xà lách Cherokee (Mỹ) thể hiện khả năng thích ứng tốt nhất trong điều kiện phòng tối chiếu đèn LED với tỷ lệ nảy mầm 99%, khối lượng trung bình đạt 67,7 g/cây, năng suất thực thu đạt 1,4 kg/m² (cao hơn 55,6% so với giống đối chứng Việt Thái chỉ đạt 0,9 kg/m²). Giống Sunni đạt năng suất thực thu 1,3 kg/m² (tăng 44,4% so với đối chứng) và có điểm đánh giá cảm quan cao nhất.
  • Xác định thời gian chiếu sáng tối ưu: Thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày bằng đèn LED phối màu (50% đỏ + 25% xanh + 25% trắng) mang lại hiệu quả sinh trưởng và năng suất cao nhất trên giống Cherokee: chiều cao cây 22,3 cm/cây, số lá 16,3 lá/cây, diện tích lá thứ 3 đạt 277,6 cm², khối lượng trung bình cây 80,4 g/cây, năng suất thực thu đạt 1,8 kg/m² và tổng thu đạt 144.000 đồng/tầng/m².
Tóm tắt thông số tối ưu:

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp dẫn liệu khoa học chuẩn xác về việc ứng dụng ánh sáng nhân tạo trong mô hình nông nghiệp đô thị (plant factory/indoor vertical farming) tại Việt Nam.
  • Khuyến nghị áp dụng giống xà lách Cherokee kết hợp chế độ chiếu sáng LED 12 giờ/ngày trên hệ thống thủy canh nhiều tầng trong phòng kín để tối đa hóa năng suất sinh khối và tiết kiệm chi phí tiêu thụ điện năng so với các chu kỳ chiếu sáng dài hơn (14 – 16 giờ/ngày).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Nghiên cứu chưa phân tích các chỉ tiêu phẩm chất hóa sinh của rau xà lách thương phẩm như hàm lượng nitrat ($NO_3^-$), vitamin C, đường tổng số hay các hợp chất chống oxy hóa (phenol, flavonoid).
  • Tính toán hiệu quả kinh tế ở quy mô mô hình thí nghiệm nhỏ hẹp (1 m²/nghiệm thức, mật độ 24 cây/m²) nên tổng chi đầu tư ban đầu (hệ thống giàn, máy bơm, đèn LED Philips, hạt giống nhập khẩu) vượt xa tổng thu, dẫn đến lợi nhuận sơ bộ chưa phản ánh đúng quy mô sản xuất thương mại.
  • Quy trình dinh dưỡng áp dụng chung cho tất cả các giống mà chưa có sự tinh chỉnh riêng biệt theo nhu cầu hấp thu đặc thù của từng kiểu gen.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Khảo sát các mật độ gieo trồng cao hơn trên hệ thống giàn nhiều tầng nhằm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích và cải thiện điểm hòa vốn kinh tế.
  • Phân tích chi tiết các chỉ tiêu phẩm chất rau và tồn dư nitrat dưới các tỷ lệ phối phổ đèn LED khác nhau.
  • Thử nghiệm tối ưu hóa nồng độ dinh dưỡng và chế độ tưới hồi lưu riêng biệt cho giống xà lách Cherokee trong điều kiện chiếu sáng nhân tạo hoàn toàn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên và nghiên cứu viên: Chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Nông nghiệp Công nghệ cao và Công nghệ Sinh học Nông nghiệp cần tài liệu thực chứng về phương pháp bố trí thí nghiệm CRD, quy trình điều khiển thông số EC/pH theo giai đoạn sinh trưởng cây rau ăn lá.
  • Kỹ sư và đơn vị phát triển nông nghiệp đô thị: Tham khảo thông số kỹ thuật lắp đặt giàn tầng, tỷ lệ phối hợp quang phổ LED (đỏ:xanh:trắng), cường độ bức xạ quang hợp (180 – 240 µmol/m²/s) và định mức năng lượng chiếu sáng 12 giờ/ngày để xây dựng mô hình nông trại trong nhà (indoor farming).
  • Người sản xuất thủy canh: Tham khảo đặc tính sinh trưởng và chất lượng cảm quan của các giống xà lách nhập nội (Cherokee, Sunni, Green Lollo) so với giống đối chứng nội địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống xà lách nào cho năng suất và hiệu quả sinh trưởng cao nhất trong thí nghiệm?

Giống xà lách Cherokee (Mỹ) đạt kết quả tốt nhất với tỷ lệ nảy mầm 99%, khối lượng trung bình 67,7 g/cây và năng suất thực thu đạt 1,4 kg/m² ở thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày, cao hơn 55,6% so với giống đối chứng Việt Thái (0,9 kg/m²).

2. Vì sao chế độ chiếu sáng 12 giờ/ngày lại vượt trội hơn các mức 14 và 16 giờ/ngày?

Xà lách là cây có quang chu kỳ ngày dài. Khi kéo dài thời gian chiếu sáng lên 14 – 16 giờ/ngày, cây có xu hướng chuyển sớm từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang giai đoạn phân hóa mầm hoa, làm giảm số lá sinh dưỡng, giảm tích lũy sinh khối thân lá và làm tăng chi phí điện năng. Mức 12 giờ/ngày cung cấp vừa đủ năng lượng ánh sáng cho quang hợp mà vẫn duy trì sinh trưởng sinh dưỡng tối ưu (đạt khối lượng 80,4 g/cây và năng suất 1,8 kg/m²).

3. Thông số kỹ thuật của hệ thống đèn LED được sử dụng trong nghiên cứu là gì?

Thí nghiệm sử dụng đèn LED Philips (xuất xứ Ba Lan, công suất 28 W/dãy, góc chiếu 120°) được bố trí xen kẽ theo tỷ lệ quang phổ 50% đỏ (680 nm) + 25% xanh dương (460 nm) + 25% trắng (400 – 700 nm). Khoảng cách từ bóng đèn đến cây là 40 cm, cường độ bức xạ quang hợp dao động từ 180 đến 240 µmol/m²/s.

4. Nồng độ dinh dưỡng và độ dẫn điện (EC) được điều chỉnh như thế nào qua các giai đoạn?

Dung dịch thủy canh được cung cấp theo 4 giai đoạn sinh trưởng với pH cố định ở 6,2: từ 1 – 7 NST ở mức 450 ppm (EC 1,0 mS/cm); từ 8 – 14 NST ở mức 675 ppm (EC 1,5 mS/cm); từ 15 – 21 NST ở mức 900 ppm (EC 2,0 mS/cm); và từ 22 – 28 NST ở mức 990 ppm (EC 2,2 mS/cm).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trung Hậu đã thực hiện thành công việc đánh giá ảnh hưởng của yếu tố giống và thời gian chiếu sáng bằng đèn LED đến cây xà lách thủy canh trong điều kiện phòng kín có kiểm soát nhiệt độ. Kết quả khẳng định giống xà lách Cherokee có tiềm năng sinh trưởng và năng suất cao nhất trong số các giống khảo nghiệm, đạt năng suất thực thu 1,4 kg/m² ở giai đoạn sàng lọc. Chế độ chiếu sáng 12 giờ/ngày bằng đèn LED phối hợp (50% đỏ, 25% xanh dương, 25% trắng) là khoảng thời gian tối ưu giúp giống Cherokee đạt năng suất cực đại 1,8 kg/m² và tiết kiệm chi phí điện năng. Công trình cung cấp các thông số thực nghiệm có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao cho lĩnh vực canh tác nông nghiệp công nghệ cao trong nhà.