ĐẶT VẤN ĐỀ: Đối với công trình đường ô tô, vấn đề nghiên cứu các tiêu chuẩn thiết kế và các giải pháp thiết kế tổ chức giao thông, muốn đạt được hiệu qủa mong muốn, nên dựa trên sự hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về các đặc trưng của đòng xe hoạt động trên hệ thống quốc lộ, cũng như những dự đoán về xu hướng biển đổi của đặc trưng này theo thời gian. Nhứng đặc trưng của dòng xe là sản phẩm đặc thù của hoạt động kinh tế xã hội. Nó được hình thành và biến động theo các chính sách, phương thức kinh tế, tập quán xã hội và thiên nhiên cụ thể ở mỗi nước. Do vậy, không thể áp dụng nhứng đặc trưng hoạt động dòng xe của một nước nàyvào việc nghiên cứu các tiêu chuẩn thiết kế và các giải pháp thiết kế tổ chức giao thông của một nước khác.
Riêng ở Việt Nam, sự hiện diện thường xuyên một lượng lớn xe đạp trong dòng xe ngày đêm hoạt động trên mọi tuyến đường, đã tạo nên một đặc trưng giao thông rất. Việt Nam: giao thông hỗn hợp cơ giới và thô sơ. Cần lưu ý rằng, khoảng ð năm trở lại đây, mặc dù lượng xe máy không ngừng tăng lên với một tỷ lệ phát triển hàng năm rất lớn - khoảng 20% /18/ nhưng trên thực tế, cường độ hoạt động của thành phần xe đạp trên quốc lộ vẫn không giảm (vấn dé nay được trình bày chỉ tiết ở tiểu mục II-3) mà vẫn duy trì ở một ty lệ rẤt lớn trên mọi tuyến đường (xem bảng 1). Thực tế khách quan đó đòi hỏi mọi nghiên cứu vê dòng xe và ảnh hưởng của các đặc trưng hoạt động của dòng xe tới việc nghiên cứu các tiêu chuẩn thiết kế cũng như nghiên cứu giải pháp thiết kế tổ chức giao thông ở Việt Nam nhất thiết phải dựa trên đặc thù giao thông hỗn hợp cơ giới và thô sơ trên hệ thống quốc lộ của ta.
Việc nghiên cứu nhứng đặc trưng dòng xe ở các nước thường tiến hành dựa trên số liệu theo đối dòng xe do các cơ quan quản lý đường sá. Tiến hành đêu đặn hàng năm theo quy định. Ở nước ta, việc theo đối quan trắc dòng xe còn được quan tâm qúa ít, mặc dù mấy năm gần đây một số cơ quan giao thông đã có làm một phần, như đếm xe để làm luận chứng thiết kế, cải tạo nâng cấp, quan lý khi có hiện tượng xuống cấp. Tuy nhiên công tác này còn tận mạn, chưa được đưa vào hệ thống pháp quy, quản lý trên phạm vi toàn quốc.
Do yêu cầu của đề tài, chúng tôi đã tự tổ chức quan trắc dong xe dong thời tập hợp các số liệu qua các đợt đếm xe do Viện thiết kế giao thông (Bộ giao thông vận tải) triển khai trong phạm vi những dự án thiết kế cải tạo các quốc lộ từ năm 1980 tới nay. Theo két qua quan trắc cường độ xe trên các quốc lộ, đặc biệt là đợt quan trắc phục vụ cho dự án VIE 88/040 (bảng 1) thấy rằng ở phía Bắc chỉ có quốc lộ 1 va quốc lộ 5 có lưu lượng xe tương đối lớn. Trong thực tế hai quốc lộ này có tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với tiêu chuẩn đường cấp III, tình trạng mặt đường tương đối tốt, và là hai tuyến giao thông chính của miền Bắc, do vậy chúng tôi chọn hai đường này làm đối tượng nghiên cứu vê đặc trưng dòng xe trên quốc lộ Việt Nam. n Căn cứ vào những kết qủa thu được từ các đợt quan trắc 6 ngày trong tuần với mục đích thăm dò các “cao điểm” trong tuần (trình bày chỉ tiết ở phần [H-1) sau khi phân tích số liệu, tác giả kiến nghị thực thi chế độ quan trắc: mỗi đợt tiến hành trong ba ngày có lưu lượng lớn nhất trong tuần, và mỗi ngày quan trắc 24/24 giờ tại các trạm quan trắc cố định đã được lựa chọn sao cho bảo đảm trùng vị trí giữa các đợt quan trắc khác nhau.
THÀNH PHÂN DÒNG XE TRÊN QUOC LỘ VIỆT NAM II-2-1 Tỷ lệ thành phần các nhóm xe chính trong dòng xe. Căn cứ vào sự khác biệt về công suất, tốc độ và kích thước của các loại phương tiện giao thông cùng với tần suất xuất hiện của chúng trong dòng xe ngày đêm hoạt động trên các quốc lộ có thể xác định thành phần dòng xe ở Việt: Nam gồm ba nhóm xe chính là: ôtô, xe máy và xe đạp. §T z98 0ÿ 6E8T GY ZPET ˆ 3un~) rgq,[, GT 9T 6L16 Ze qGyy Ze S952 - ue uel, PT 0€ GE8y SP 61E¿ SZ SE0F - Boy ugg ST €Z SEST 9 LELT TS OPEE - oói ượnX ol 06 68TT Go 0€9 82 €99 ˆ 39143 ươd,† TT SZ 6SE Go 906 ec OL - ureyo deuy OT 0€ 68ST €6 CLL LZ 898 - eQu QUIN 6 T€ ELST 08 LLLI 66 19£6 (16/6/€6-16/E/16) uodqu uy 8 gc TSb2 06 098 Ze T116 - uœ YULG L bO LOI gcc - uga Tey 9 L¢ SOP? GE 96/6 8 099 - Any} ugg € tẽ 99 OF 68Z1 ˆ œ13 3uoq ỳ 0E Gos SE 9615 LE GL¥C 08 0002 - ueÁnx nữa Ệ LY 8899 OP 80yS ral 8991 - ups UL, Z Z9 ES8Z Sẽ 18ZT OT ZOP (16/6/1-16/5/16 4) day -TộioonÐ | T § L 9 ¢ ỳ Ệ G T % a4, | 9x3uømos | %ðiÁL | 9x3uôlos | % SÁU | ex BUN OS ™ oviy uenb 1611, nur wap Aedu/dep 9x wap Agsu/Agul 8X uiẹp ÁgSu/@ O 9S 16/6 1ỎG - uIqo ó[ oonb ogo uạ1‡ ox Wap eønb +ay dôu sug} sueg 1-II đugq %SP SE WET sonb ượœ qua 8un12 $[ ÁT, 6E LSEE se OOF 9 Leg - BIB yoy OF CT OONO | EE tẽ S06 tỳ EELE €E Z988ố - qUợq32uơỊ 'TG-: G6 06 9ø92 6È T0 T5 6691 - nepehH SGC 18 SP LOLZ 6E ESP ST TLIT - 3Ó nẹp NYL ‘ST OF 9ENG | 06 E¢ O€SP TE PI96 91T CSET - nyd ugh - 66 6s S6ET OF ty01 L LLT - weyodeyy, '06- 8Z 69 J4 0E €€TT TT 61 - eQy YUIN "9% OL FENH | LZ TP LITT 08 OTs 6ẽ 18/ (16/6/86-16/6/18) uouuưy '6I9i2onÐ | 92 6L 6669 Co §991 9 bP - ey sug "6 B2ONH | Sẽ q9 $0TI€ LG 0616 8 19 - res uQH - té 99 GZST €Z Sóc TT 096 - Te] eUd ‘ST O12ON® | EZ GL LI8L 06 E108 G vr - duny ual, '0L9190nÐ | 2 8G 0612 SG 668 02 CPL - 0S 2U0TY] gói2onÐb | Tố b8OP 62 99Gã- 92 9966 - oey AW gội9onÐ | 06 GP 6912 cE LOGT Sẽ bSZ1 - onyd eg @6[2onÐ | 61 SP 886Z SZ Evel 02 8801 (16/6/1-16/8/18) ugf onud 'ø6[90nÐ | gt g¢ C6L tỳ ZLOT Tế 68P iz} YUL - LT cE 9§TT SP LLPI SZ C98 (T6/6/66-16/6/T16) OU? UED BUd Tg 2enH | 91 66 8 L 9 G ỳ Ệ ớ I Sơ đồ bố trí các tram dém xe - Thing 3-1991 co £2NG { Hà TUYỂN -29. Để có một sự nhìn nhận tổng quát về tỷ lệ phân bố ba nhóm xe trên các quốc lộ Việt Nam, có thể tham khảo bảng I-1 thiết lập từ kết qủa điều tra xe ở các quốc lộ chính trên toàn quốc tiến hành trong tháng 2 và tháng ở năm 1991, thuộc chương trình VIE; 88/040.
(*) Từ bảng I-1 ta thấy tỷ lệ phân bố trung bình của ba nhóm xe ở 33 trạm quan trắc đặt trên 15 quốc lộ điển hình trên toàn quốc là: - Xe ôtô chiếm 23% tổng số xe trên đường - Xe máy chiếm 32% tổng số xe trên đường - Xe đạp chiếm 45%. tổng số xe trên đường. Trong khi đó tỈ lệ thành phần xe trên đường ở Malaysia /3/à: " - Xe ôtô: 88,8% tổng số xe trên đường - Xe máy 11,2% tổng số xe trên đường. Qua đó ta thấy thành phần xe đạp trong dòng xe ở Việt Nam là một đặc trưng phổ biến và quan trọng.
Dù rằng thực tế nhứng năm qua thành phần xe máy có tăng lên nhiều nhưng tỷ lệ xe đạp giảm không đáng kể, hiện Lượng này có thể thấy rõ qua số liệu quan trắc xe ở một số vị trí trên quốc lộ 5 trong mấy nim gan day (Bang II-2). Bang TỊ-2 Ta == Tram quan Thời gian Số Số xe Số xe trắc ôtô/ngày máy/ngày dap/ngay dém dém dém — Cau chui 12/1988 4437 2809 9874 km0-QI5 100% 0,26 0,16 0,58 10/1990 3537 5331 7641 100% 0,21 0,32 0,46 8/1992 3352 8558 10975 100% 0,15 0,37 0,48 Sở Dầu 10/1990 2984 3032 9745 km92-QL5 100% 0,19 0,19 0,62 8/1992 2359 4262 9209 100% 0,15 0,27 0,58 _—— =r ÖÒẮ30-. Thành phân nhóm xe ôtô. Ngoài các nhóm xe đạp, xe máy có thành phần tương đối đồng nhất về tính năng kỹ thuật cũng như khổ động học, thì thành phần nhóm xe ôtô là tương đối đa dạng.
Tuy vậy, thành phần nhóm xe ôtô ở Việt Nam cúng bao gồm ba loại xe chính tương đồng như ở các nước khác là xe con, xe khách và xe tải. Duy chỉ có sự khác biệt là ở tỷ lệ của từng loại xe trong nhóm xe ôtô. Và chính sự khác biệt này, lại ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thông xe của đường (vấn đề này được trình bầy chỉ tiết ở phần II-3 và ở chương IV). Dựa trên các tập hợp số liệu điều tra quan trắc trên hai quốc lộ chính của miền Bác là QL1 và QLỗ từ 1980 tới 1992 (Phụ lục D có thể xác định được tỷ lệ thành phần các loại xe trong nhóm xe ôtô và sự biến đổi của chúng theo thời gian (bảng II.3 Loại xe Xe con Xe khách Xe tải Giai đoạn 1980-1985 26.42% Để tiện đối chiếu có thể tham khảo thành phần nhóm xe ôtô ở một số nước trong vùng Đông Nam Á (bảng II.
Tên nuớc Xe cơn Xe khách Xe tải Indonesia 66.0% Malaysia 80,6% 2,37% 17,03% -31-, ` = ; a , Đi ni Ũ Từ bảng II.3 ta thấy trong giai đoạn 1980-1985 thành phần nhóm xe ôtô ở nước ta vẫn không thay đổi so với thời kỳ trước đó (đã được nghiên cứu trong luận án cia PTS Dé Bá Chương /21/), và cũng tương đồng với thành phân dòng xe ở Liên Xô trong thời gian đó. Có thể nói đó là thành phần nhóm xe ôtô đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa, bao gồm 70% xe tải và 30% xe con, xe khách. Từ khi nước ta bắt đầu đổi mới bằng các chính sách kinh tế mới và loại bỏ dan chế độ bao cấp thì cơ cấu thành phần nhóm xe ôtô cúng bắt đầu thay đổi theo chiều hướng mới của hoạt động sản xuất kinh doanh.