CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XÂY DỰNG ĐƯỜNG TRÊN ĐẤT YẾU VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐƯỜNG 1.1/- Tình hình xây dựng đường đắp cao trên đất yếu trong điều kiện Việt Nam 1.1/- Trạng thái biến dạng của nền đường đắp trên đất yếu Nền đường đắp cao thường bị biến dạng thể hiện bởi độ lún của nền đường trong thi công và khai thác. - Biến dạng do nén chặt : do tác dụng của ứng suất pháp làm cho đất bị thu hẹp lỗ rỗng bởi các hạt đất bị ép chặt lại. - Biến dạng đàn hồi : biến dạng tức thời của đất nền. Biến dạng này có khả khôi phục khi dỡ tải.
- Biến dạng dẽo: Xảy ra do xuất hiện tượng trượt trên các mặt có trị số ứng suất tới hạn nào đó.2/- Biến dạng lún của một số công trình đường đắp trên đất yếu. Một số công trình đường đắp cao, hiện tượng lún xảy ra là đáng kể và ảnh hưởng rất lớn đến quá trình lưu thông. Các công trình đường đầu cầu, các tuyến đường đắp cao, các tuyến đường mở rộng thì hiện tượng lún thể hiện rất rõ rệt. Ở TPHCM, công trình đường vào cầu vượt Nguyễn Hữu Cảnh sau khi thi công đưa vào khai thác, hiện tựng lún xuất hiện và kéo dài.
Đặc biệt công trình đường hầm chui Văn Thánh sau khi cho lưu thông, độ lún bắt đầu gia tăng từ cuối tháng 11/2001 đến 4/2002 độ lún đo được 1,1m. Đơn vị thi công đã cho bù lún bằng BTN nhưng đến nay độ lún vẫn còn tiếp diễn tuy nhiên ở tốc độ chậm. 5 Đường QL1 đoạn An Sương An Lạc lún không đều giữa đường cũ và đường mới mở rộng làm xuất hiện vết nứt trên bề mặt BTN.1 : Nền đường bị nứt do độ lún không đều 1.2/- Các giải pháp thường áp dụng để thiết kế nền đường đắp trên đất yếu - Đắp trực tiếp trên đất yếu : trong trường hợp khi tính toán ổn định và lún của nền đường thỏa mãn các yêu cầu và tiêu chuẩn độ lún cho phép và độ ổn định của công trình. - Đào một phần hoặc toàn bộ đất yếu : giải pháp này thích hợp lớp đất yếu có bề dày nhỏ hơn vùng ảnh hưởng của tải trọng đắp.
Có thể dùng cọc tre với mật độ 25cây/m² ( hoặc cọc tràm với mật độ 16cây/m² ) thay thế việc đào bớt lớp đất yếu trong phạm vi bằng chiều dài cọc đóng. - Đắp bệ phản áp : giải pháp này dùng khi đắp nền đường trực tiếp trên đất yếu với tác dụng tăng mức độ ổn định chống trượt trồi cho nền đường để đạt các yêu cầu về ổn định. - Gia tải trước : là nén trước đất trước khi xây dựng công trình nhằm cải tạo các tính chất cơ lý của đất. - Tầng đệm cát : được bố trí giữa lớp đất yếu và nền đường đắp để tăng nhanh khả năng thoát nước cố kết từ phía đất yếu lên mặt đất tự nhiên dưới tác dụng của tải trọng nền đắp.
Tầng đệm cát được sử dụng trong trường hợp đắp trực tiếp trên đất yếu và bắt buộc phải có biện pháp thoát nước cố kết theo phương thẳng đứng. - Thoát nước cố kết theo phương thẳng đứng : bố trí các phương tiện thoát nước theo phương thẳng đứng (giếng cát, bấc thấm) nước cố kết ở các lớp sâu trong đất yếu dưới tác dụng của tải trọng đắp sẽ có điều kiện thoát nước nhanh (thoát nước theo 6 phương nằm ngang ra giếng cát hoặc bấc thấm rồi theo chúng thoát ra mặt đất tự nhiên). Phương pháp này thường được áp dụng khi tầng đất yếu có bề dày lớn (vượt quá bề rộng đáy nền đường). Tuy nhiên để đảm bảo phát huy được hiệu quả thoát nước này thì chiều cao đắp tối thiểu nên là 4m và khi thiết kế cần thoả mãn các điều kiện (theo tiêu chuẩn 22TCN 262-2000 ) [1]: σ vz + σ z ≥ (1,2 ÷ 1,5)σ pz (1.1) lg(σ vz + σ z ) − lg σ pz η= ≥ 0,6 (1.2) lg(σ vz + σ z ) − lg σ vz Trong đó : σ vz : Áp lực thẳng đứng do trọng lượng bản thân các lớp đất yếu gây ra ở độ sâu z; σ z : Áp lực thẳng đứng do tải trọng đắp; σ pz : Áp lực tiền cố kết ở độ sâu z trong đất yếu; - Xử lý nền bằng bấc thấm : Đây là phương pháp thoát nước thẳng đứng sử dụng vật liệu chế tạo sẳn là bấc thấm.
Bấc thấm bao gồm 2 loại: 1- chất dẽo dược bao ngoài bằng vật liệu tổng hợp với tính chất đặc trưng như sau : Cho nước thấm qua lớp bọc ngoài. Lõi chính là đường tập trung nước và dẫn nước thoát ra ngoài khỏi nền đất yếu bão hòa. Lớp vải địa bọc ngoài có tính năng ngăn cách phần đường dẫn và môi trường đất bên ngoài, ngăn không cho các hạt đất len vào trong làm tắc nghẽn.2 : Xử lý nền đường bằng bấc thấm - Xử lý nền đường bằng giếng cát. Làm các đường thấm bằng vật liệu cát đóng xuống bên dưới nền có tác dụng thoát nước cho nền đường Hình 1.2 : Xử lý nền đường bằng giếng cát 8 - Phương pháp bơm hút chân không Mục tiêu tăng vận tốc cố kết cho đất bên dưới, dưới tác động của gia tải trước (hút chân không + tải nước + tải đắp) và hệ thống bấc thấm tăng nhanh khả năng thoát nước lỗ rỗng thặng dư.4 : Gia tải bằng bơm hút chân không - Sử dụng vải điạ kỹ thuật để tăng cường mức độ ổn định : O ( tâm trượt nguy hiểm nhất) R R Vải địa kỹ thuật Y H hi l2 l1 Hình 1.5 : sử dụng vải điạ kỹ thuật để tăng cường mức độ ổn định 9 - Cọc đất trộn xi măng Cọc trộn dưới sâu là phương pháp mới để gia cố nền đất yếu, sử dụng vật liệu là xi măng, vôi … làm chất đóng rắn, nhờ vào cần khoan xoắn và thiết bị bơm phụt vữa vào trong đất để trộn cưỡng bức đất yếu với chất đóng rắn (dạng bột hoặc dung dịch), lợi dụng một chuỗi phản ứng hóa học - vật lý xảy ra giữa chất đóng rắn với đất, làm cho đất mềm yếu đóng rắn lại thành một thể cọc có tính chỉnh thể, ổn định và có cường độ nhất định.
10 CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN XỬ LÝ NỀN ĐƯỜNG CHO CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU 2.1/- Khái Niệm đất yếu Theo tiêu chuẩn ngành GTVT 22TCN -262-2000 thì đất yếu là đất có sức chống cắt nhỏ tính biến dạng (ép lún ) lớn, do vậy nền đắp trên đất yếu, nếu không có các biện pháp xử lý thích hợp thường dể mất ổn định toàn khối hoặc lún nhiều, lún kéo dài ảnh hưởng tới mặt đường, công trình trên đường và cả mố cầu lân cận.2/- Phân loại đất yếu 2.1/- Theo nguồn gốc hình thành : phân thành hai loại đất yếu có nguồn gốc khoáng vật hoặc nguồn gốc hữu cơ.1/- Nguồn gốc khoáng vật : thường là sét hoặc á sét trầm tích trong nước ở ven biển, vũng vịnh, đầm hồ, đồng bằng tam giác châu. Loại này có thể lẫn hữu cơ trong quá trình trầm tích (hàm lượng có thể lên tới 10÷12%) nên có thể có màu đen, xám đen, có mùi. Đối với loại đất này được xác định là yếu nếu ở trạng thái tự nhiên độ ẩm của chúng gần bằng hoặc cao hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn (sét e ≥ 1,5, á sét e ≥ 1,0), lực dính C theo kết quả cắt nhanh không thoát nước từ 0.15daN/cm² trở xuống, góc nội ma sát ϕ từ 0÷10° hoặc lực dính theo kết quả thí nghiệm cắt cánh hiện trường là Cu≤0. Ngoài ra ở các vùng thung lũng còn có thể hình thành đất yếu dưới dạng bùn cát, bùn cát mịn ( hệ số rỗng e >1.2/- Nguồn gốc hữu cơ : thường hình thành từ đầm lầy, nơi nước tích đọng thường xuyên, mực nước ngầm cao, tại đây các loài thực vật phát triển, thối rữa và phân hủy, tạo ra các vật lắng hữu cơ lẫn các trầm tích khoáng vật.
Loại này thường gọi là đất đầm lầy, than bùn, hàm lượng hữu cơ chiếm tới 20÷80%. Loại này được xác định là đất yếu nếu hệ số rỗng và các đặt trưng về sức chống cắt của chúng đạt các trị số như đất có nguồn gốc khoáng vật. Theo hàm lượng hữu cơ có trong đất yếu ta có các loại đất sau : - Hàm lượng hữu cơ từ 20÷30% : Đất nhiễm than bùn - Hàm lượng hữu cơ từ 30÷60% : Đất than bùn 11 - Hàm lượng hữu cơ trên 60% : than bùn 2.2/- Theo trạng thái tự nhiên 2.1/- Đất yếu loại sét hoặc á sét : được phân loại theo độ sệt B W − Wd B= (2.1) Wnh − Wd W, Wd,Wnh – Độ ẩm ở trạng thái tự nhiên, giới hạn dẻo và giới hạn nhão của đất yếu. Nếu B>1 thì gọi là bùn sét (đất yếu trạng thái chảy) Nếu 0.75<B≤ 1 là đất yếu dẻo chảy.2/- Đất đầm lầy, than bùn : được phân thành 3 loại - Loại I : loại có độ sệt ổn định, thuộc loại này nếu có vách đào thẳng đứng sâu 1m vẫn duy trì ổn định trong 1÷2 ngày; - Loại II : loại có độ sệt không ổn định; loại này không đạt tiêu chuẩn loại I nhưng đất than bùn chưa ở trạng thái chảy; - Loại III : Đất than bùn ở trạng thái chảy; 2.3/- Khái quát về Đồng Bằng Sông Cửu Long [5] 2.1/- Vị trí địa lý Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng châu thổ nằm cuối hạ lưu sông Mekong, được giới hạn bởi phía bắc là biên giới Viêt Nam – Campuchia, Tây Ninh và TP.Hồ Chí Minh, phía nam và đông là biển Đông, phía tây là vịnh Thái Lan.
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên là 3.000 hecta bao gồm 14 tỉnh: Long An, Tiềng Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và An Giang.2/- Địa hình Đồng Bằng Sông Cửu Long có địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ phổ biến 0,3 ÷ 0,4 m trên mực nước biển (theo mốc cao độ mũi Nại) trừ một số ngọn núi ở An Giang và Kiên Giang. Ngoài ra các khu vực có độ cao cục bộ, có thể phân thành các vùng theo cao độ như sau: - Thềm phù sa cổ dọc biên giới Việt Nam - Campuchia có cao độ từ 2,0÷5,0m. 12 - Dọc theo sông Tiền và sông Hậu có cao độ 1,0 ÷ 3,0 m. - Các khu vực ngập lũ của sông Tiền, sông Hậu và các vùng ngập triều ven biển có cao độ 0,3÷1,5m.