MỞ ĐẦU Ở phần này tác giả trình bày những nội dung cơ bản về tính cấp thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu của đề tài, ý nghĩa và giá trị thực tiễn của đề tài và phương pháp nghiên cứu. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, theo tiến trình đô thị hóa chung của cả nước, trong thời gian qua tốc độ đô thị hóa của An Giang cũng tăng nhanh, đến nay đạt trên 35%. Chính điều này, dẫn đến tốc độ xây dựng nhà ở cũng tăng nhanh, trung bình mỗi năm tăng khoảng 4.372 căn / năm tương đương với tổng diện tích nhà ở tăng hàng năm là 1. Trong đó, nhu cầu về nhà ở cho người có công với cách mạng, hộ nghèo chiếm khoảng 19% tổng diện tích nhà ở tăng thêm theo kết quả điều tra cuối năm 2015.
Chương trình nhà ở cho người có công với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg: Trong giai đoạn 2016-2017, tỉnh sẽ tiếp tục triển khai thực hiện công tác hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở là 2.658 căn, với tổng diện tích 85. Chương trình nhà ở cho hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg: Trong giai đoạn 2016-2020, tỉnh cần thực hiện hỗ trợ khoảng 5.752 căn nhà cho hộ nghèo có khó khăn về nhà ở, với tổng diện tích 138. Cùng với sự tăng dân số và tốc độ đô thị hóa tăng, theo dự báo đến năm 2020 nhu cầu về nhà ở của tỉnh An Giang cần xây dựng khoảng 30.333 căn (trung bình mỗi năm cần xây dựng thêm khoảng 6.066 căn/năm) với tổng diện tích nhà ở hàng năm cần xây dựng khoảng 1. Trong đó, nhu cầu về nhà ở của các hộ dân sống trong vùng thường xuyên bị ngập lụt, nhất là các khu vực sạt lở ven sông, kênh, rạch đã và đang có xu hướng xảy ra rất nghiêm trọng (theo khảo sát có trên 5.760 hộ cần phải di dời gấp trong thời gian tới và trên 10.000 hộ dân cũng đang sống trong khu vực có nguy cơ sạt lỡ cao).
Qua đó, việc xây dựng nhà ở là vấn đề cần quan tâm thực hiện trong thời gian tới nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu, đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản của người dân. Đồng thời, giúp cho người dân có chổ ở an toàn để ổn định cuộc sống nhằm góp phần thúc đầy phát triển kinh tế - xã hội của An Giang. Dựa trên những vùng đất được quy hoạch làm vùng tái định cư, khu dân cư mới, khu dân cư vượt lũ, khu công nghiệp, …, tác giả nhận thấy địa chất những vùng xxv Luan van này có đặc điểm chung là được san lấp cát trên nền đất yếu. Trên địa chất trên, đã có những phương án móng như cọc tràm, cọc tre, cọc đá, cọc BTCT tiết diện nhỏ, cọc khoan nhồi, phương án móng bè, …, được sử dụng.
Nhưng trong tình hình thực tế hiện nay, nhiều phương án tỏ ra không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Với điều kiện địa chất đặc thù, khả năng tài chính, trình độ kĩ thuật, máy móc, con người còn thiếu thốn nên nhu cầu cấp bách phải có một phương án móng giá thành rẻ hơn mà vẫn đáp ứng được những yêu cầu về kĩ thuật và thân thiện với con người là rất cần thiết. Phương án móng D – BOX được nghiên cứu trong đề tài này, có thể đáp ứng được cơ bản những hạn chế nêu trên và đã được sử dụng khá thành công ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cũng như một số nước trên thế giới. Tuy nhiên lại chưa được nghiên cứu và ứng dụng nhiều ở Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Ứng dụng giải pháp D – BOX trong điều kiện địa chất điển hình là cát san lấp trên địa bàn tỉnh An Giang, qua đó có thể nghiên cứu ứng xử của kết cấu D – BOX để áp dụng cho các địa chất khác trên địa bàn tỉnh An Giang nói chung và Việt Nam nói riêng. Đề ra các khuyến cáo, hướng dẫn cho các kỹ sư khi thiết kế, thi công nền móng sử dụng D – BOX. Đề tài có các mục tiêu nghiên cứu chính như sau: - Nghiên cứu các đặc trưng ứng suất – biến dạng của đất cát, đất bùn bằng thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT và thí nghiệm nén tĩnh hiện trường, thí nghiệm các mẫu đất trong phòng thí nghiệm. - Nghiên cứu ứng xử của nền đất trước và sau khi được gia cố bao D - BOX bằng thí nghiệm bàn nén hiện trường.
- So sánh kết quả giữa thí nghiệm hiện trường và mô phỏng bằng phần mềm Plaxis. - Phân tích đánh giá kết quả, đưa ra nhận định, khuyến nghị về phương án D – BOX trong điều kiện nền đất yếu có cát san lấp trên địa bàn tỉnh An Giang. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài Xác định sức chịu tải theo thí nghiệm SPT: Thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT được tiến hành với tốc độ nhanh tương ứng với phương pháp thí nghiệm cắt nhanh không thoát nước. Do vậy, kết quả SPT diễn tả đúng ứng xử của đất rời, còn với đất dính nó diễn tả đúng ứng xử tức thời và không diễn tả tốt ứng xử lâu dài của đất dính.
Tuy vậy, theo lý thuyết cơ học đất tới hạn và thực nghiệm chứng tỏ rằng với đất dính xxvi Luan van cố kết thường thì sức chịu tải tức thời sẽ bé hơn sức chịu tải lâu dài, vì trong quá trình chịu tải hệ số rỗng của đất sẽ giảm. Xác định sức chịu tải theo thí nghiệm bàn nén tĩnh: Do phương án móng trong đề tài này là móng nông, chiều sâu lớp đất cát thứ nhất từ 2,5 – 5 m, lớn hơn 1,5 – 4 bề rộng móng nên kết quả thu được từ thí nghiệm rất đáng tin cậy và hoàn toàn phù hợp với thực tế. Thí nghiệm bàn nén tĩnh được xem là phương pháp có độ tin cậy cao nhất để xác định khả năng chịu tải của đất nền. Kết quả chính của thí nghiệm này là quan hệ giữa độ lún và các cấp áp lực.
Thông qua quan hệ này người thiết kế có thể xác định được sức chịu tải cho phép của đất nền, từ đó kiểm tra và đánh giá độ an toàn, độ ổn định cho nền khi chịu tải công trình. Việc sử dụng phần mềm Plaxis 2D để mô phỏng bao D – BOX trong nền đất yếu có cát san lấp, so sánh kết quả với thí nghiệm hiện trường, sẽ phản ánh được đầy đủ quá trình làm việc của móng. Qua đó, sẽ có được cái nhìn tổng quát về hiệu quả làm việc của phương pháp mới này. Đề tài sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về sự làm việc của kết cấu D – BOX cho một số nền đất giới hạn trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng và Việt Nam nói chung.
Nghiên cứu phương án D – BOX để đảm bảo công trình tuyệt đối an toàn, đảm bảo công năng sử dụng, khả thi nhất cho công trình và giá thành rẻ nhất, thời gian đưa công trình vào sử dụng nhanh nhất. Đối tượng nghiên cứu Công trình nhà ở thấp tầng điển hình cao 2 đến 4 tầng được chọn để nghiên cứu phương án móng mới bằng bao D – BOX. Với thông số đất nền, bảng thống kê địa chất được lấy từ số liệu thực tế tại tỉnh An Giang. Với địa chất điển hình là nền đất yếu có cát san lấp.
Phương pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu cơ sở lý thuyết áp dụng với thực nghiệm, cụ thể gồm 4 nội dung sau: * Nghiên cứu lý thuyết - Nghiên cứu cơ sở xác định sức chịu tải của nền nhà trong các TCVN; nghiên cứu qua Sách, Bài báo trong tạp chí khoa học, Bài báo hội nghị; - Cơ sở lý thuyết liên quan sức chịu tải đất nền trong Plaxis; * Nghiên cứu tính chất cơ lý cát, bùn qua thí nghiệm trong phòng và hiện trường - Lấy mẫu thí nghiệm trong phòng các tính chất cơ lý của cát, bùn. - Thí nghiệm đóng SPT hiện trường. xxvii Luan van * Thực nghiệm nén tĩnh đất nền trên thực nghiệm - Thiết kế, chế tạo bao D – box (1000 x 1000 x 250 mm). - Thí nghiệm nén tĩnh sức chịu tải đất nền chưa có bao D – box.
- Thí nghiệm nén tĩnh sức chịu tải đất nền có 01 lớp bao D – box (01 bao). - Thí nghiệm nén tĩnh sức chịu tải đất nền có 02 lớp bao D – box (05 bao). * Tính toán, mô phỏng bằng phần mềm Plaxis - Mô phỏng phần mềm Plaxis cho đất nền chưa có bao D - BOX. - Mô phỏng phần mềm Plaxis cho đất nền có 01 lớp bao D – box (01 bao).
- Mô phỏng phần mềm Plaxis cho đất nền có 02 lớp bao D – box (05 bao). - Mô phỏng phần mềm Plaxis cho đất nền có bao D – box (nhiều bao, lớp bao). - So sánh kết quả giữa thí nghiệm nén tĩnh với kết quả mô phỏng phần mềm Plaxis. - Phân tích đánh giá kết quả, đưa ra nhận định, kiến nghị về những vấn đề đã được giải quyết và chưa giải quyết được trong đề tài.
xxviii Luan van CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Khái quát chung Khác với đất đắp đổ tùy tiện trước đây, đất đắp đổ ngày nay được thực hiện theo những quy trình được kiểm tra cẩn thận trên đất tự nhiên đã được xử lí trước bằng cách bóc bỏ những nơi mềm yếu và có tính ép lún cao. Những đất đắp đổ như vậy có thể dùng làm nền công trình còn tốt hơn cả đất tự nhiên và đã được sử dụng rộng rãi ở những khu vực phát triển nhà ở và khu công nghiệp. Đặc thù của cát san lấp lâu năm (cát chặt): Tính nén lún thấp, ngay cả khi áp lực rất lớn cũng không thể làm giảm hệ số rỗng của cát xốp tới hệ số rỗng của cùng loại cát đó ở điều kiện chặt.
Mặt khác, hệ số rỗng của cùng loại cát xốp có thể dễ giảm tới gía trị của cát chặt chỉ nhờ chấn động. Do đặc thù của nền cát san lấp mà một số phương pháp thi công gia cố nền bằng cọc đá, cọc bê tông cốt thép tiết diện nhỏ, cừ tràm, ., gặp khó khăn dẫn đến tăng chi phí, giảm sức chịu tải của đất nền gây chuyển vị cho công trình xây dựng. Vì vậy, việc tìm một phương pháp gia cố nền mới thuận tiện cho việc thiết kế thi công với mục đích hạ giá thành xây dựng, tăng sức chịu tải của đất nền, hạn chế chuyển vị của công trình là rất cần thiết. * Về đặc điểm địa hình và địa chất, khí hậu, thủy văn.