CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu thời vụ Thời vụ trồng có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng của giống hoa loa kèn. Bởi ở mỗi thời vụ khác nhau có điều kiện ngoại cảnh khác nhau ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa loa kèn.
Hoa nói chung và hoa loa kèn nói riêng có giá trị kinh tế cao đối với những người làm vườn. Nhưng khi hoa nở ở những ngày thường thì hoa thường khó bán, giá trị hoa thấp, đối với với các ngày lễ như 8/3, Tết Nguyên Đán…nhu cầu về hoa rất lớn, tiêu thụ dễ và giá bán cao. Xác định đúng thời vụ trồng phù hợp với điều kiện khí hậu thời tiết cụ thể ở từng địa phương là một điều rất quan trọng. Việc nghiên cứu thời vụ không những giúp chúng ta có thời vụ trồng hợp lý mà còn xác định được thời vụ trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu mật độ trồng Mật độ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng. Giải quyết tốt vấn đề mật độ là giải quyết tốt mối quan hệ giữa các mối quan hệ giữa các cá thể trong quần thể để khai thác tốt nhất khoảng không gian ( không khí, ánh sang) và các vấn đề về dinh dưỡng và nước dưới mặt đất nhằm thu được năng suất cao nhất trên một đơn vị diện tích. Mật độ càng cao mức độ cạnh tranh giữa các quần thể càng mạnh khi ở dưới đất cạnh tranh về dinh dưỡng, nước, trên mặt đất cạnh tranh về ánh sáng vì vậy cây sẽ làm cây phát triển kém, chất lượng thấp. Mật độ trồng thấp, cây không phải cạnh tranh nhiều, do vậy cây hoa có khả năng phát triển tốt cho năng suất cao, chất lượng tốt.
Nhưng năng suất của toàn diện tích lại thấp. n 4 Mật độ trồng hợp lý sẽ giúp hoa tận dụng được tối đa các điều kiện ở đồng ruộng, khả năng tích lũy của cây cao từ đó tăng năng suất và chất lượng hoa. Việc nghiên cứu xác định được mật độ trồng thích hợp của hoa loa kèn sẽ góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật trồng và đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người làm vườn. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón dinh dưỡng qua lá Phân bón có ý nghĩa rất lớn đến đời sống của thực vật nói chung và của cây hoa nói riêng, nó không những có tác dụng làm cây lớn nhanh mà còn ảnh hưởng sự hình thành và phát triển của đời sống thực vật.
Cây trồng cần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển. Các chất dinh dưỡng này bao gồm các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng và các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây. Ngoài bộ phận rễ thì cây còn hấp thu dinh dưỡng dưới dạng khí nhờ các bộ phận trên mặt đất đặc biệt là lá cây. Các chất này được hấp thu qua khí khổng.
phương pháp này tuy hấp thu kém nhưng đặc biệt quan trọng khi cây trồng ở vùng đất cằn cỗi, khô hạn… Dinh dưỡng qua lá phổ biến là các nguyên tố trung lượng như Mg, S và vi lượng yêu cầu với một lượng nhỏ. Cây sử dụng phân phun lên lá nhanh chóng nên hiệu lực sử dụng cao. Do đó dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong việc cung cấp các khoáng chất cho cây. Cơ sở khoa học của việc sử dụng chế phẩm kích thích sinh trưởng Trong thực vật bất cứ hoạt động sinh trưởng và phát triển nào đều được điều chỉnh đồng thời bởi nhiêu loại hormone.
Chính vì vậy sự cân bằng giữa các hormone có vai trò quan trong. Ở thực vật có hai loại: * Sự cân bằng chung: Sự cân bằng chung được thiết lập dựa trên cơ sở 2 nhóm phytohormon có hoạt tính sinh lý trái ngược nhau: Nhóm chất kích thích sinh trưởng và nhóm chất ức chế sinh trưởng. Sự cân bằng này xác định n 5 trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Trong quá trình phát triển cá thể của cây từ khi cây sinh ra cho đến khi cây chết đi thì sự cân bằng trong chúng diễn ra theo quy luật: sự ảnh hưởng các chất kích thích giảm dần và sự ảnh hưởng của chất ức chế tăng dần.
* Sự cân bằng riêng: Trong cây có vô số các quá trình phát sinh hình thái và hình thành cơ quan khác như rễ, thân, lá, hoa, quả, sự nảy mầm, sự chín. đều được điều chỉnh bởi sự cân bằng của hai hay một vài hoocmon đặc hiệu. - Tái sinh rễ và chồi được điều chỉnh bởi tỷ lệ giữa Auxin và Xytokinin trong mô. Nếu tỷ lệ này nghiêng về Auxin thì rễ được hình thành nhanh hơn và ngược lại.
- Gibberellin (GA3) được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây và được vận chuyển không phân cực. Giberellin có nhiều tác dụng đối với cây trồng: thúc đẩy sự phát triẻn của cây non, kích thích mọc mầm, kích thích ra mầm của hạt, kích thích sự ra hoa và quả của cây, hạn chế sự rụng của hoa. Chúng ta có thể điều chỉnh sinh trưởng và phát triển của thực vật thông qua cân bằng hormon. Đặc điểm khu vực nghiên cứu Lục Nam là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang cách tỉnh 27km và cách thủ đô 70km về phía đông bắc.
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 596. Địa giới hành chính như sau: Phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn. Phía nam giáp với tỉnh Hải Dương và Quảnh Ninh. Phía tây tiếp giáp với huyện Lạng Giang và Yên Dũng.
Phía đông tiếp giáp với huyện Sơn Động. Phía đông bắc giáp với huyện Lục Ngạn. Địa hình: Trên địa bàn có hai dãy núi Yên Tử và Huyền Đinh chạy qua theo hình lòng chảo, nghiêng dần về phía Tây Nam, đã chia địa hình huyện thành 03 n 6 vùng rõ rệt: vùng núi, vùng trung du và vùng chiêm trũng. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 35,5%; đất lâm nghiệp chiếm khoảng 44% (toàn huyện hiện có 26.300 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên, rừng tái sinh là 14.300 ha); đất chuyên dùng khoảng 10%.
Về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện có than đá và đất sét. Khí hậu: Khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,9C0. Lục nam có số giờ nắng tương đối cao phân bố không đều, số giờ nắng cao nhất vào tháng 6, tháng 7.
Lượng mưa TB hàng năm không lớn. Chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10. Trong đó tháng 8 có lượng mưa lớn nhất. Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên là 59.
Trong đó: Diện tích đất nông nghiệp 20. Diện tích đất nông nghiệp 26. Trong đó diện tích đất nông nghiệp có 12.285 ha được canh tác hàng năm. Tài nguyên đất phong phú, đa dạng thích hợp với nhiều loại cây trồng.
Chủ yếu canh tác các loại rau màu như: Củ Đậu, Dưa… Trong những năm gần đây theo hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nhiều hộ đã mạnh dạn canh tác chuyển dịch sang trồng hoa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Từ năm 2006 đến nay UBND tỉnh Bắc Giang, các huyện thành phố, các sở ban ngành. đã hỗ trợ xây dựng một số mô hình sản xuất hoa áp dụng công nghệ tiên tiến tại các địa phương trong tỉnh. Kết quả đã đạt được một số thành công cơ bản sau: + Đã xác định được một số chủng loại hoa có chất lượng cao là: Phong lan, lily, đồng tiền, hồng, cúc, loa kèn, đào.
phù hợp với điều kiện sinh thái ở các vùng đã triển khai ở Bắc Giang. n 7 + Đã xác định thời vụ trồng thích hợp đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật để điều khiển sinh trưởng nở hoa vào đúng dịp lễ, tết làm nâng cao giá trị sản xuất hoa. Với những thuận lợi về khí hậu, đất đai Lục Nam rất thích hợp cho việc trồng các loại hoa thực hiện mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng của nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII của tỉnh Bắc Giang đã đề ra. Để có cơ sở khoa học và thực tiễn trước khi phát triển loại hoa này tại Lục Nam chúng tôi tiến hành nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật, nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của của chúng ở các thời vụ, mật độ khác nhau để tìm ra được mật độ trồng và loại phân bón lá, chế phẩm KTST thích hợp nhất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho người trồng hoa.
Tình hình sản xuất hoa loa kèn trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất hoa loa kèn trên thế giới Trên thế giới hiện nay, sản xuất và tiêu thụ hoa cắt cành đang rất phát triển và nó còn là một nghành mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ngoài một số hoa cắt cành chủ yếu như Hồng, Cẩm chướng…, hoa Loa kèn trắng cũng là một loại hoa được thế giới ưa chuộng bởi vẻ đẹp quyến rũ và hương thơm thanh nhã. Tại Mỹ, theo thống kê của Bộ Nông nghiệp, loa kèn mang lại giá trị buôn bán vào năm 1995 là 37,4 triệu USD, tương đương 10 triệu cành hoa cắt.
Loa kèn chỉ đứng sau ba loài hoa là trạng nguyên, cúc, đỗ quyên và đặc biệt được ưa chuộng trong dịp lễ tết [12]. Ở Châu Á, Đài Loan cũng là nước có công nghệ trồng hoa loa kèn tiên tiến nhất hiện nay. Năm 2001, Đài Loan có 490ha diện tích trồng hoa loa kèn, và hoa loa kèn cắt cành đã bổ sung vào kim ngạch xuất khẩu của nước này là 7,4 triệu USD. Năm 2003, Đài Loan xuất khẩu hoa loa kèn cắt cành sang thị trường Nhật Bản thu về hơn 10 triệu USD và nhập khẩu 4 triệu USD củ loa kèn giống từ Hà Lan [15].
n 8 Hà Lan năm 2001 đã sản xuất 1 tỷ cành loa kèn và tổng doanh thu trên 1,5 tỷ USD. Hoa loa kèn được xếp thứ 5 trong tổng số 10 loại hoa cắt được sản xuất nhiều với doanh thu đạt 237 triệu guilder [13]. Năm 2005, Hà Lan xuất khẩu hàng trăm triệu cành hoa cắt và chậu hoa loa kèn sang thị trường tiêu thụ của hơn 80 nước trên thế giới [20]. Bên cạnh Hà Lan còn một số nơi trồng nhiều hoa loa kèn như: Nhật, Mỹ, Nam Hemisphere, e.
Australia, Chile và Nam Phi.