Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu phân bón hữu cơ vi sinh Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái, trong chu kỳ sống một năm, cam thường ra 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu, Đông). Quá trình ra lộc ở cam liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phân dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả năm sau (Đào Thanh Vân và cs, 2000).
Nếu có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều chỉnh quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam. Từ cơ sở khoa học này, việc nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ giữa các đợt lộc trong năm nhằm có thêm thông tin cơ bản, tiền đề của các biện pháp kỹ thuật là cần thiết. Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng. Chính vì thế việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết (Đỗ Đình Ca và cs, 2005).
Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng. Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu chất kích thích sinh trưởng Cùng với việc sử dụng phân bón, sử dụng chất kích thích sinh trưởng là một biện pháp kĩ thuật tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây. Chất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 điều tiết sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như là một phương tiện điều chỉnh hóa học rất quan trọng đối với nhiều loại đối tượng cây trồng.
Các ứng dụng như kích thích nhanh sinh trưởng của cây, sự ra hoa của cây, tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt,… Quả được hình thành sau khi xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh sau đó hợp tử phát triển thành phôi. Phôi sinh trưởng là trung tâm sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và gibberellin. Các chất này khuyếch tán vào bầu và kích thích sự lớn lên của quả. Vì vậy, nếu không có quá trình thụ phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng.
Trong số các hoocmon sinh trưởng thì Gibberellin axít (GA3) có ảnh hưởng lớn, quan trọng đối với các hoạt động sinh lý của cây. Vai trò sinh lý quan trọng của Gibberellin đối với cây trồng nói chung là kích thích sự giãn tế bào theo chiều dọc, giúp kích thích sự sinh trưởng kéo dài của các cơ quan, kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, ảnh hưởng đến phân hoá giới tính của các cơ quan sinh sản (ức chế sự phát triển hoa cái, kích thích sự phát triển hoa đực), kích thích sự sinh trưởng của quả (Võ Tá Phong, 2004). Việc sử dụng phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng trên cơ sở chăm sóc tốt đã được khẳng định qua nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước từ đó làm tăng năng suất và chất lượng quả cam Sành. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới Trên thế giới có khoảng 140 nước sản xuất cây ăn quả có múi. Tuy nhiên, hầu hết sản lượng lại tập trung theo những vùng nhất định. Hiện nay có 3 nước sản xuất quả có múi lớn nhất thế giới là Braxin, Mỹ và Trung Quốc, chiếm khoảng 60% tổng sản lượng quả có múi toàn cầu (Nguyễn Quang Hân, 2016). Các thống kê về thị trường tiêu thụ quả tươi cũng cho thấy khoảng 60% sản lượng quả có múi được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, 40% còn lại là đưa vào chế biến.
Sao Paulo (Braxin) và Florida (Mỹ) là 2 vùng sản xuất cam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 chủ lực, chiếm khoảng 90% sản lượng nước cam toàn cầu. Braxin là nước xuất khẩu quả có múi lớn nhất, chiếm 20% tổng sản lượng quả có múi của thế giới, tiếp theo là Mỹ (14%), Trung Quốc (12%) và Mexico (6%). Quả có múi được xếp thứ nhất trong số các loại cây ăn quả về giá trị thương mại quốc tế. Quả có múi được tiêu thụ dưới hai phương thức: quả tươi (chủ yếu là cam) và nước quả (chủ yếu là nước cam) (Đào Thanh Vân và cs, 2000).
Theo số liệu thống kê của FAO, năm 2018 sản xuất cam của toàn thế giới đạt 1.415 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 96 tạ/ha, sản lượng đạt 13. Theo số liệu thống kê của FAO, từ năm 2015 đến năm 2017 diện tích trồng cam trên thế giới tăng qua các năm.376,8 nghìn ha (năm 2015) lên 1.415,6 nghìn ha (năm 2017) tăng 42,9 nghìn ha. Bên cạnh đó, năng suất và sản lượng cam tăng nhưng không liên tục theo các năm. Sản lượng tăng từ 13.062,8 nghìn tấn năm 2015 lên 13.
Tình hình sản xuất cây cam trên thế giới từ 2015 - 2017 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2015 1.590,6 (Nguồn: FAOSTAT, 2019) Diện tích trồng cam, năng suất và sản lượng tăng dần qua các năm là do người dân đã biết áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất, năng lực kĩ thuật của người dân được nâng cao, từ đó nâng cao được hiệu quả kinh tế khi trồng cây cam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Sản lượng cam, quýt, chanh, bưởi ở các châu lục năm 2017 (Đơn vị: nghìn tấn) Vùng lãnh Cam Quýt Chanh Bưởi thổ Châu Phi 9.409,8 92,6 (Nguồn: FAOSTAT, 2019) Số liệu bảng 1.2 cho thấy sản lượng cam trên thế giới rất cao nhưng lại không đồng đều giữa các châu lục, sản lượng cam chiếm tỷ lệ cao nhất là châu Mỹ (30.954,4 nghìn tấn), chanh, quýt, bưởi đều có sản lượng thấp hơn hẳn so với cam (bưởi chỉ có 1. Không chỉ dẫn đầu về sản lượng cam mà châu Mỹ còn có sản lượng chanh (hơn 7.329,8 nghìn tấn) cao hơn so với các châu lục còn lại.
châu Á đứng thứ 2 về quýt với 26.535,3 nghìn tấn, sản lượng chanh với 6. Sản lượng cam thấp nhất là châu Âu ( chỉ có 6. Những năm tới đây theo dự đoán sẽ có hai hướng phát triển về nhu cầu cam, đầu tiên là sự phát triển về nhu cầu cam sẽ chậm lại. Một số nước hiện nay đang phải đối phó với hai vấn đề trong sản xuất là bệnh loét (cakel) và hiện tượng biến vàng trên cam (Citrus varriegatet chlorosis), ngoài ra thu nhập người trồng cam thấp do giá thành không cao nên diện tích trồng mới sẽ không tăng.
Hai là xu hướng sử dụng quả cam tươi đối với các quốc gia phát triển sẽ giảm và công nghiệp chế biến cam sẽ tiếp tục phát triển ở những quốc gia đang phát triển mặc dù thị trường chính vẫn là các nước Bắc Mỹ và châu Âu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 - Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mexico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina. tuy vùng cam châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kì đã thúc đẩy ngành cam ở đây phát triển rất mạnh. - Vùng châu Á: được khẳng định là quê hương của cam, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam.
Tuy nhiên năng suất bình quân vẫn còn đang ở mức thấp, đó là do điều kiện kinh tế, xã hội của các nước này có những hạn chế nhất định, nghề trồng cam chưa được chú trọng nhiều và đang tồn tại sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại như: Nhật Bản, Hàn Quốc. và sự canh tác truyền thống của Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin. tình trạng sâu bệnh hại nhiều nghiêm trọng. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trong nước Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam.
Cam được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước. Từ những năm hoà bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang). đây là 2 vùng chuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến. Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam như Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con.
đã hình thành một số vùng trồng cam chính ở nước ta. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Tình hình sản xuất cam ở nước ta giai đoạn 2013 -2017 Năm STT Chỉ tiêu 2013 2014 2015 2016 2017 1 Diện tích (nghìn ha) 43,4 46,2 45,4 50,9 56,7 2 Năng suất (tấn/ha) 12,26 12,76 12,47 12,52 13,54 3 Sản lượng (nghìn tấn) 532,0 589,5 566,1 636,9 768,3 Nguồn: FAOSTART, (2019) Số liệu bảng 1. cho thấy diện tích cam tăng mạnh từ năm 2013 là 43,4 nghìn đến năm 2017 là 56,7 nghìn ha.
Tổng sản lượng cam đạt cao nhất vào năm 2017 đạt 768,3 nghìn tấn. * Các vùng trồng cam chính ở Việt Nam + Vùng đồng bằng sông cửu long C ác tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9015’ đến 10030’ vĩ bắc và 1050 đến 106045’ độ kinh đông, địa hình rất bằng phẳng, có độ cao từ 3 - 5m so với mặt nước biển. Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi.