CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây chè có nguồn gốc ở vùng á nhiệt đới, nên chè sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ẩm ướt và ấm. Tuy nhiên nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà cây chè có thể trồng được ở những có nhiều sự khác biệt so với nơi nguyên sản của nó. Cây chè là một loại cây trồng mà đối tượng thu hoạch là búp nên để có năng suất và chất lượng tốt cần lựa chọn giống phù và áp dụng các biện pháp kỹ thuật, kích thích quá trình sinh trưởng tạo búp mới cho năng suất chất lượng cao.
Trong canh tác chè, những biện pháp kỹ thuật cơ bản thường được nghiên cứu, áp dụng là các biện pháp tủ gốc giữ ẩm và bón phân. Nhất là bón phân qua lá thường được sử dụng. Bón phân hợp lý và tủ gốc giữ ẩm cho cây chè không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè. Hiện nay khu vực Phia Đén xã Thành Công có khoảng trên 40 ha diện tích trồng chè, tuy nhiên một số giống chè chất lượng cao mới được đưa vào trồng thử nghiệm nhất là giống chè PH8 chiếm diện tích lớn nhất.
Việc lựa chọn các biện pháp kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Vì vậy cần thiết phải nghiện cứu một số biện pháp kỹ thuật hợp lý cho giống chè PH8 nói riêng và các giống chè khác tại vùng nói chung. Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây chè 1. Nguồn gốc của cây chè Các công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng Vân Nam Trung Quốc, nơi có điều kiện khí hậu ẩm ướt n 4 quanh năm.
Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây 4.000 năm người Trung Quốc đã biết dùng chè làm dược liệu sau đó mới dùng để uống.Bruce phát hiện những cây chè dại lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ ) từ đó các học giả người Anh cho rằng quê hương của cây chè là ở Ấn Độ chứ không phải ở Trung Quốc. Những công trình nghiên cứu của Dejemukhatze (1961-1976) về phức Catechin giữa các loại chè được trồng và mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm cho sự tiến hóa trên cơ sở đó xác minh nguồn gốc cây chè. Từ sự biến đổi sinh hóa của các lá cây chè mọc hoang dại và các cây chè được trồng trọt, chăm sóc. Dejemukhatze cho rằng, nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam.
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau, từ 300 vĩ Nam đến 450 vĩ Bắc, là những nới có điều kiện tự nhiên khác xa vùng nguyên sản. Những thành tựu khoa học của các nhà chọn giống Liên Xô,Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… đã tạo nhiều giống mới có khả năng thích ứng với các điều kiện khác nhau, tạo nhiều triển vọng cho nghề trồng chè trên thế giới (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [2]. Phân loại của cây chè Tên khoa học của cây chè được thống nhất là Camellia sinensis (L) O.Kuntze và có tên đồng nghĩa là Thea sinensis L. Việc phân loại chè dựa vào các cơ sở sau : - Cơ quan sinh dưỡng: Loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán, hình dạng và kích thước của lá, số đôi gân lá.
- Cơ quan sinh thực: Độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của đầu nhụy cái. - Đặc tính sinh hóa: Chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin, mỗi giống chè có hàm lượng tanin biến đổi nhất định (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [2]. Phân bố của cây chè Sự phân bố của cây chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu. Các kết quả nghiên cứu đều đi tới một kết luận chung: Vùng khí hậu nhiệt đới là thích hợp cho cây chè.
Tuy nhiên do KH-KT ngày càng phát triển, đã lai tạo, chọn lọc nhiều giống chè khác nhau và được trồng rộng rãi trên thế giới. Theo Đỗ Ngọc Quý (1980) [8 ] hiện nay chè được phân bố khá rộng từ 42 độ vĩ Bắc Pochi (Liên Xô cũ) đến 27 độ Nam Coriente (Achentina). Sự phân bố của cây chè tùy theo điều kiện đất đai và địa hình cũng có sự khác nhau. Đất trồng chè tốt phải có phản ứng chua, nhiều mùn, thoát nước tốt và có độ dốc thoải.
Ảnh hưởng của độ cao đã hình thành nên các vùng chè với những giống chè khác nhau và chất lượng khác nhau. Các nhà khoa học đều cho rằng: chè trồng ở những vùng có độ cao lớn hơn so với mặt nước biển thường có chất lượng tốt hơn chè trồng ở vùng thấp. Chè trồng ở Hoàng Sơn (An Huy – Trung Quốc), vùng Dajilling (Ấn Độ) có độ cao lớn so với mặt nước biển, có chất lượng nổi tiếng thế giới. Ở Việt Nam chè có chất lượng cao được trồng ở Hà Giang, Mộc Châu, Nghia Lộ - Yên Bái.
Về điều kiện khí hậu, chè sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 15 – 20 độ C, tổng nhiệt độ hàng năm vào khoảng 8.000 độ C, lượng mưa trung bình hang năm 1.000 mm, độ ẩm đất 70 – 80%. Sự phân bố chè theo những điều kiện tự nhiên khác nhau đã tạo nên những vùng chè có chất lượng khác nhau, tạo nên hương vị riêng của mỗi vùng. Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [3 ], các vùng sản xuất chè chủ yếu ở Việt Nam là: - Vùng chè Tây Bắc - Vùng chè Việt bắc – Hoàng Liên Sơn - Vùng chè Trung Du – Bắc Bộ - Vùng chè bắc Trung Bộ n 6 - Vùng chè Tây Nguyên 1. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước 1.
Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới * Những kết quả nghiên cứu về giống chè Công tác chọn tạo giống trong chè có vai trò rất quan trọng. Việc chọn lọc, lai tạo giống mới không chỉ quyết định tới khả năng cho năng suất mà, chất lượng mà còn ảnh hưởng tới khả năng mở rộng địa bàn, chính vì vậy công tác nghiên cứu chè được quan tâm từ rất sớm. Các nước có thành tựu nổi bật trong việc lựa chọn giống mới là: Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1994) [11]: In donexia bắt đầu trồng chè vào năm 1964 nhưng không thành công, đến năm 1872 mới thành công trên giống Asam nhập từ Srilanka. Đến nay Indonexia là một trong năm nước có diện tích trồng chè lớn trên thế giới, 20 năm trở lại đây họ đã tích cực chọn tạo giống mới cao sản và năm 1988 đã có các dòng chè vô tính GMB-1, GMB-2, GMB-3, GMB-4, GMB-5 có sản lượng cao.
Theo PGS Đỗ Ngọc Quý và cs (2000) [9 ] thì từ những năm 50 của thế kỷ 20 Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt trong đó có 102 giống chè được nhân giống bằng phương pháp vô tính. Đến năm 2009, Ấn Độ đã có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt. Trong đó có trên 20% giống trồng bằng phương pháp giâm cành. Trung Quốc có lịch sử trồng chè từ rất sớm.
Đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt được chọn theo Phương pháp cá thể: Các giống Đại Bạch Trà, Thiết Quan Âm, Thủy Tiên,… đã có từ 200 năm nay là các giống triết canh do nhân dân tạo ra. Trong những năm 1950 – 1960 Trung Quốc luôn chú trọng công tác chọn tạo giống theo chiều sâu. Năm 1956, Trần Khôi Vũ đã đưa ra phương pháp chọn giống 100 điểm đối với cây ăn quả. Phương pháp này đã được n 7 PGS.
Đỗ Ngọc Quý áp dụng trong chọn giống chè ở Triết Giang. Theo điều tra năm 1996, Trung Quốc đã có trên 1.000 giống, trong đó xác định được 50 giống chè tốt phục vụ cho sản xuất. Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ và cs (2000) [ 10]: Tại Kennya, các giống chè chọn lọc, giâm cành cho năng suất cao hơn giống chè đại trà tới 20%, diện tích chiếm 67% ở khu vực tiểu nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các đồn điền lớn. Ngoài ra, Kenya còn nhâm giống bằng hình thức ghép.
* Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè Những nghiên cứu về chu kỳ phát triển cá thể cây chè của các nhà khoa học cho thấy: chè có 2 chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ. Chu kỳ phát triển lớn hay chu kỳ phát dục cá thể thì chia thành 5 giai đoạn (Theo tác giả Trung Quốc): - Giai đoạn phôi thai ( giai đoạn hạt giống): Được tính từ khi tế bào trứng thụ tinh bắt đầu phân chia, hình thành cho tới khi chín. - Giai đoạn cây con: Được tính từ khì hạt chè nảy mầm cho đến khi cây chè ra hoa, kết quả lần đầu. Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 năm.
- Giai đoạn cây non: Được tính từ khi chè ra hoa, kết quả lần đầu tiên khi cây chè định hình ( có bộ khung tán ổn định). Giai đoạn này kéo dài 2 – 3 năm. - Giai đoạn chè lớn ( giai đoạn chè kinh doanh, sản xuất): Được tính từ khi cây chè có bộ tán ổn định bước vào giai đoạn kinh doanh, thu hoạch búp tới khi có thể thay tán mới. Giai đoạn này kéo dài từ 30 – 40 năm hoặc lâu hơn.
- Giai đoạn chè già cỗi (hết giai đoạn kinh doanh, sản xuất): Được tính từ khi chè có biểu hiện thay tán lá đến khi chè già và chết. n 8 Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hang năm): Tính từ khi mầm chè bắt đầu phân hóa sau đốn cho đến khi mầm chè ngừng sinh trưởng. Nó gồm 2 quá trình phát triển song song đó là quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. - Quá trình sinh trưởng sinh dưỡng: Bao gồm sinh trưởng búp, cành và sinh trưởng rễ.
- Quá trình sinh trưởng sinh thực: Là quá trình hình thành trồi hoa, nở hoa, thụ phấn và kết hạt. Những nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng cây chè: Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [ 4], M.A Liadade (1964) cho rằng: Khi chè có 5 lá thì ở các nách lá thứ nhất, thứ hai đã có mầm nách, khi có lá thứ 6 xuất hiện thì có mầm nách thứ 3, khi có 7 lá thì mầm nách thứ 4 xuất hiện,… Ông cũng cho rằng: Khi mầm chè qua đông, 2 lá đầu tiên bao bọc mầm chè là lá vảy ốc, tiếp theo là lá cà. Các mầm nách của lá thứ 4 và lá thứ 5 của các đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp ở đợt sinh trưởng thứ hai. Nghiên cứu về sinh trưởng của búp chè tác giả K.