Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu. Đặc điểm sinh lý của cành chè giâm. Đối với thực vật nói chung và cây chè nói riêng để duy trì nòi giống của mình chúng đều phải thông qua cơ quan sinh sản hoặc chúng có khả năng tái sinh từ các bộ phận khác của cơ quan sinh dưỡng như : lá, chồi, thân, rễ…Nếu đưa các bộ phận của chúng vào môi trường thích hợp chúng sẽ phát triển thành rễ, mầm và cây con.
Đối với phương pháp giâm cành chè ta dùng một đoạn thân lá (cơ quan dinh dưỡng) để tái sinh ra cây chè mới. Phiến lá của hom là cơ quan để quang hợp tạo ra chất dinh dưỡng nuôi hom và tái sinh cây, lá có vai trò quan trọng trong việc tạo thành cây chè con, nhưng cũng dựa vào nhiều yếu tố khác như: chất lượng hom giống, đất đóng bầu, chế độ sáng, chế độ chăm sóc và bón phân cho vườn ươm. Để tạo thành cây chè hoàn chỉnh và sinh trưởng tốt trong vườn ươm, đủ tiêu chuẩn đưa ra trồng trên nương nó phụ thuộc nhiều vào chất lượng hom giống, môi trường giâm, chế độ chiếu sáng, chế độ chăm sóc và phân bón cho vườn ươm. Môi trường cắm hom chè thường dùng là một loại đất xốp có thành phần cơ giới trung bình, độ chua thích hợp pHkcl từ 4,5 – 5,5.
Từ vết cắt hom chè sau khi giâm xuống đất nó sẽ hình thành một màng mộc thiêm để chống sự xâm nhập của vi sinh vật, dần dần tạo thành mô sẹo và từ đó mọc ra rễ đầu tiên, mầm nách của hom chè cũng được phát triển cùng với sự phát triển của rễ, và lá đầu tiên xuất hiện là lá vẩy ốc nở, sau đó đến lá cá và các lá thật, để tạo thành cây con hoàn chỉnh. Nếu để mầm phát triển sớm hơn phát triển rễ là không có lợi cho cây chè giâm do đó phải điều chỉnh sinh trưởng cân đối giữa mầm và rễ. Thực vật nói chung và cây chè nói riêng có khả năng tái sinh cơ thể mới từ các cơ quan sinh dưỡng. Khi một đoạn cành được cắt ra khỏi cơ thể mẹ thì các quá trình phân chia tế bào vẫn tiếp tục xảy ra để hình thành mô sẹo từ mặt cắt của cành giâm phía dưới mặt đất và mầm ở nách lá hoạt động để hình thành một cây chè e 12 hoàn chỉnh.
Tuy nhiên khả năng này thường có ở những cành bánh tẻ và có chứa đỉnh sinh trưởng, đặc biệt phải có môi trường thuận lợi. Những kết quả trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng quá trình này chịu ảnh hưởng của các nhóm nhân tố như: đặc điểm, trạng thái sinh lý của cây mẹ và cành giâm; các biện pháp kỹ thuật giâm cành và các điều kiện môi trường (nhiệt độ, ẩm độ, sâu bệnh.) Tỷ lệ và hàm lượng giữa nhóm auxin và xytokinin quyết định sự phân hoá các bộ phận trên và dưới mặt đất của cây chè. Với một hom chè để trưởng thành một cây chè hoàn chỉnh cần phải sinh trưởng rễ và chồi. Nhưng để hình thành rễ cần phải tăng hàm lượng các chất thuộc nhóm auxin lúc mới giâm, sau đó rễ tự động tổng hợp các chất thuộc nhóm xytokinin xúc tiến quá trình hình thành các chồi để tạo nên cây chè hoàn chỉnh.
Đó là cơ sở của việc sử dụng một số các chất kích thích sinh trưởng để làm tăng khả năng ra rễ, tăng tỷ lệ xuất vườn của những giống khó nhân giống (Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương, 2000) [22]. Vai trò sinh lý của đạm, lân, kali đối với cây chè. Bón phân cùng nhiều biện pháp tác động khác đối với giai đoạn chè con chủ yếu để tạo ra cho cây có bộ rễ và bộ khung tán tốt, cơ sở cho việc nuôi hom chè và cho cả chu kỳ sống và thu hoạch của cây. Việc sử dụng phân bón hợp lý cho cây trồng phải dựa trên yêu cầu sinh lý của cây trồng, khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất và thời kỳ bón phân hợp lý cho chè.
Phân đạm đóng vai trò hàng đầu trong sự phát triển của cây trồng. Phân đạm giúp cây sinh trưởng mạnh, tăng trưởng nhanh về chiều cao, diện tích là, phân cành nhiều, giúp hình thành diệp lục, tăng hoạt động quang hợp và tích lũy, giảm năng suất chất lượng cây trồng nghiêm trọng. Đạm là dinh dưỡng giúp cải thiện kích thước chồi, lá, tăng năng suất, giúp ra lá nhiều, ra búp mới, lá mới. Đối với cây chè khi cung cấp đầy đủ lượng phân đạm, chè phát triển nhanh thân, cành, lá, búp, đâm chồi, nảy mầm ở các nách lá (Hoàng Minh Tấn, 2006) [26].
Phân lân có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng và protein. Thúc đẩy ra rễ giúp tăng thu chất dinh dưỡng, góp phần tạo năng suất và nâng cao chất lượng. Đối với cây chè, giúp sinh trưởng tốt, hệ thống rễ phát triển, e 13 tạo khung tán mà cây chè tuổi nhỏ có nhu cầu, tham gia xúc tiến hình thành cơ quan sinh sản, tiến hành trao đổi chất và năng lượng mạnh, xúc tiến các hoạt động sinh lý đặc biệt là quang hợp và hô hấp. giúp cây tăng năng suất cây trồng (Hoàng Minh Tấn, 2006) [26].
Phân kali có vai trò sinh lý quan trọng đối với cây trồng: giúp các hoạt động trao đổi chất và các hoạt động sinh lý của cây; có tác dụng điều chỉnh các đặc tính lý hóa của keo nguyên sinh chất; điều chỉnh đóng mở của khí khổng; điều chỉnh dòng vận chuyển các chất trong mạch libe; hoạt hóa các enzyme; làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với điều kiện ngoại cảnh bất thuận. Giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh PH, lượng nước qua khí khổng hoạt hóa enzim có liên quan đến quang hợp và tổng hợp hydratcacbon (Hoàng Minh Tấn, 2006) [26]. Chăm sóc vườn cây chè mẹ quan trọng nhất là chế độ phân bón và phòng trừ sâu bệnh trong quá trình nuôi hom giống. Vườn giống gốc để lấy hom cần được chăm sóc chu đáo, luôn sạch cỏ, sạch sâu bệnh.
Hàng năm bón cân đối N: P: K, liều lượng, thời kỳ và phương pháp bón phân cần được thực hiện đúng. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng giâm cành của cây chè. Ảnh hưởng đặc điểm của giống tới khả năng giâm cành. a) Khả năng nhân giống của các giống chè.
Nghiên cứu về khả năng giâm cành của giống PH1, 1A, LDP1 cho thấy: những giống chè có tốc độ hóa nâu chậm thì khi giâm cành tỷ lệ sống và đặc biệt quá trình hình thành mô sẹo, ra rễ, bật mầm thấp hơn và ngược lại ở những giống hóa nâu nhanh hơn thì có kết quả giâm cành tốt hơn (Nguyễn Văn Toàn, Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Niệm, 1998) [35]. Những nghiên cứu về khả năng nhân giống của các giống chè: PH1, 1A, TRI 777 và TH3 ở Thái Nguyên cho thấy các giống khác nhau có khả năng nhân giống khác nhau (Lê Tất Khương, 1997) [11]. Những nghiên cứu về khả năng sản xuất hom của các giống chè 1A, LDP1, Shan Chất Tiền, Kim Tuyên cho rằng do đặc điểm sinh trưởng của các giống khác e 14 nhau nên khả năng cung cấp hom của chúng cũng rất khác nhau. Giống thu được số lượng hom/cây cao nhất là: LDP1 đạt 166,4 hom (tương đương với 2.200 hom/ha), trong khi đó ở giống 1A số hom/cây chỉ đạt 73,4 hom (tương đương 1.
Khả năng cho hom phụ thuộc vào sinh trưởng của cây mẹ, điều kiện chăm sóc cũng như điều kiện ngoại cảnh (Đặng Văn Thư, Nguyễn Văn Tạo, 2007-2008) [33]. Tỉ lệ xuất vườn là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá kết quả giâm cành và hiệu quả kinh tế. Tỷ lệ xuất vườn phụ thuộc vào giống, độ non già của hom. Khi giâm hom xanh của các giống chè thì tỷ lệ xuất vườn cao, dao động từ 75,28 – 87,32%.Tỷ lệ xuất vườn của các giống chè 1A, LDP1, Shan Chất Tiền và Kim Tuyên khi giâm hom bánh tẻ, dao động từ 64,86 – 81,78% (Đặng Văn Thư, Nguyễn Văn Tạo, 2007-2008) [33].
Khi chọn cành cắm hom thì yêu cầu màu sắc của hom khi cắm tùy thuộc vào giống, giống PH1 yêu cầu màu xanh, nhưng TRI 777 và các giống chè LDP1, LDP2 lại có yêu cầu màu nâu sáng (Đỗ Văn Ngọc, 2003) [15]. Sau khi giâm cành được 60 ngày các cây chè Shan đầu dòng có tỷ lệ ra rễ rất khác nhau, biến động từ 46,7% đến 93,3%, trong đó có 8 cây có tỷ lệ ra rễ cao hơn giống TRI 777 (đối chứng) từ 20,0% đến 26,6%, cao nhất là các cây C. Ở giai đoạn 90 ngày, các cây chè Shan đầu dòng đều có tỷ lệ ra rễ tương đương với đối chứng, đạt trung bình từ 86,7% đến 100% (Hoàng Văn Chung, 2012) [5]. Khi nhân giống vô tính bằng giâm hom với 2 giống chè nhập nội chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích (2005 – 2006).
Chè ươm sinh trương phát triển tốt, đạt và vượt tiêu chuẩn cây con xuất vườn quy định đối với giống Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích. Tỉ lệ xuất vườn đạt 91,2% với giống chè Phúc Vân Tiên và 84,6% với giống Keo Am Tích (Nguyễn Văn Thiệp, 2005-2006) [28]. e 15 Giống chè 1A là một giống khó giâm cành, ra mô sẹo, ra rễ muộn, tỷ lệ sống thấp và đặc biệt bộ rễ phát triển kém (Lê Tất Khương, 2006) [12]. Trong 3 giống chè thí nghiệm, giống 1A và giống Shan Chất Tiền khi tăng tuổi cây giống thì tỷ lệ sống và mức sinh trưởng của cây tăng nhiều, giống Kim Tuyên thay đổi ít hơn.
Chính vì vây, tác giả đã khuyến cáo trong sản xuất để có hiệu quả, giống Shan Chất Tiền và giống 1A nên trồng cây có 12 tháng tuổi. Giống chè Kim Tuyên dùng cây 9 tháng tuổi. Đối với vườn sản xuất hom giống: trồng các giống chè LDP1, LDP2, LDD97 và TB14. Riêng giống Tứ Quý nên có một tỷ lệ nhất định để nâng cao chất lượng chè nguyên liệu.
Các biện pháp chăm sóc được thực hiện đúng theo quy trình (Nguyễn Văn An, 2006) [2]. b) Ảnh hưởng đặc điểm giải phẫu của cành chè giâm đến khả năng giâm cành. Các giống khác nhau có tỷ lệ ra mô sẹo, ra rễ và tỷ lệ nảy mầm rất khác nhau. Tỷ lệ ra mô sẹo, ra rễ, nảy mầm và xuất vườn của các giống: trung du, PH1, TRI 777, 1A và TH3 khác nhau (Lê Tất Khương, 1997) [11].
Giống 1A có điểm khác biệt so với những giống chè khác như bản lá to, lá mỏng và tầng dày biểu bì trên 1,7µ, mức độ hóa nâu chậm vì thế đây là giống chè khi giâm cành sẽ có tỷ lệ sống thấp nhất (Nguyễn Văn Toàn, 1994) [34].