Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu về phân bố của cây Sơn tra Tại Ấn Độ và một số nước ở châu Âu các loài táo và Táo lê hay còn gọi là Sơn tra thường được trồng làm cảnh quan trong khuôn viên các hộ gia đình (Craig Adkins và cộng sự, 2009). Theo kết quả điều tra của Học viện Lâm nghiệp Trung Quốc năm 1998 xác định có 2 loài Sơn tra đó là Sơn tra bắc (Crataegus pinnatifida) và Sơn tra nam (C.
Cuneata), phân bố ở các tỉnh Vân Nam, Sơn Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông. Còn theo Đỗ Tất Lợi (2004), Sơn tra còn được tìm thấy ở Ấn Độ, Myanma và một số tỉnh phía nam Trung Quốc. Cây Sơn tra là loài cây bản địa ở khu vực Đông Nam Á, phân bố từ Việt Nam qua Ấn Độ và các tỉnh phía bắc Trung Quốc (Chad Finn, 2010). Cục tài nguyên quốc gia Ấn Độ (2011), cho biết cây Sơn tra còn được tìm thấy ở các nước nằm ở phía đông dãy núi Hymalaya.
Các nghiên cứu về giá trị sử dụng của cây Sơn tra Về kinh tế: Theo Neli Lokho Pfoze cùng cộng sự (2012) công bố về giá trị đem lại thu nhập hàng năm cho người địa phương từ Sơn tra ở một số huyện phía Đông nam Ấn Độ là rất lớn và có giá trị cao nhất chiếm 29 % trong tổng số 7 loại quả được trồng ở khu vực. Ngoài ra giá trị của cây Sơn tra ở Trung Quốc nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ quả Sơn tra cho thấy đây là loài cây đem lại giá trị tiềm năng rất lớn cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm mà thực tế chỉ tính riêng thị trường trong nước Trung Quốc thì sản lượng quả chưa đáp ứng được nhu cầu nên vẫn cần nhập khẩu từ các nước khác trên thế giới để chế biến và sản xuất. m 5 Sinh thái: Từ những năm 1998-2000 Học viện Lâm nghiệp Philippin đã nghiên cứu về tính thích ứng cây Sơn tra sau canh tác nương rẫy, kết quả nghiên cứu cho thấy loài cây này rất thích ứng với việc canh tác sau nương rẫy và nó rất phù hợp với tập tục canh tác của các đồng bào vùng cao (Báo cáo kết quả nghiên cứu của Học viện lâm nghiệp Philippin, 2000). Còn theo kết quả công bố của Chad Finn và cộng sự (2010), Sơn tra là cây thường xanh, thích hợp với nhiều loại đất nhưng phát triển mạnh nhất ở dạng lập địa có khả năng thoát nước tốt với đầy đủ ánh sáng và đủ độ ẩm.
Tuy nhiên loài cây này được trồng ở Thái Lan ở lập địa khô có độ ẩm thất và đất bạc màu. Y, dược: Theo kết quả nghiên cứu AFLI (2014), trong quả Sơn tra gồm các thành phần: hợp chất dinh dưỡng (carbonhydrate, protein, chất béo, fructose, glucose, maltose, sucrose), chất vi lượng (nhóm vitamin C, B1, B12 và beta-caroten), các acid amin và các chất khoáng (Fe, P, Ca). Thành phần các chất và hợp chất này được xem như nguồn dinh dưỡng rất tốt cho con người. Trong nghiên cứu của Pérez-Jiménez và cộng sự (2010), Sơn tra nằm trong danh sách 100 loại quả giàu hàm lượng polyphenol nhất.
Chính vì thế quả Sơn tra được phân loại làm nguồn chế biến sản xuất ra thuốc có chống ô- xi hóa; đây chính là kết quả khoa học chứng minh lợi ích của quả Sơn tra về y, dược đối với sức khỏe con người. Kết quả nghiên cứu của ngàng Y học Trung Quốc cũng đã khẳng định về giá trị dược liệu của Sơn tra, loài cây này có liên quan rất lớn đến các bài thuốc điều trị một số bệnh về huyết áp… 1. Các nghiên cứu về gây trồng Sơn tra Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống Đến nay, một số nghiên cứu chọn giống và nhân giống Sơn tra đã được thực hiện, trong đó chủ yếu tập trung tại Trung Quốc. Đến nay Trung Quốc đã chọn lọc thành công một số giống Sơn tra có năng suất, chất lượng quả cao và đã được phát triển thành công trong sản xuất (Tiep và cộng sự, 2018).
Nghiên cứu về kỹ thuật trồng m 6 Đến nay, một số nghiên cứu chọn giống và nhân giống Sơn tra đã được thực hiện, trong đó cũng tập trung chủ yếu tại Trung Quốc. Hiện nay kỹ thuật thâm canh đã được áp dụng và giúp tăng đáng kể năng suất và chât lượng quả. Các nghiên cứu về sâu, bệnh hại Sơn tra Theo công kết quả điều tra của Trung tâm hội làm vườn thuộc trường đại học Clemson (2001), các loài táo nói chung và Táo lê nói riêng đều thuộc họ Hoa hồng Rosaceae, thành phần các loại sâu hại chia thành 3 nhóm chủ yếu là sâu ăn lá và ngọn non, sâu đục quả và sâu đục thân cành và rễ. Cũng theo công bố trên, một số loài sâu ăn lá và ngọn non gây hại táo và Táo lê được xác định như: Rệp muội (Aphis pomi), Rệp muội xanh (Aphis spiraecola), Nhện đỏ (Tetranychus urticae), Nhện (Panonychus ulmi) và Bọ cánh cứng Nhật Bản (Popillia japonica); 3 loài sâu cuốn lá như: Archips sp., Choristoneura rosaceana và Sparganothis sulfureana; một số loài sâu vẽ bùa thuộc giống Phyllonorycter và loài Sâu róm (Malacosoma americanum).
Trong số các loài sâu ăn lá và ngọn non trên, Trung tâm hội làm vườn Đại hoc Clemson (2001), cho rằng hai loài Nhện (T.urticae) và Nhện đỏ (P.ulmi) là những loài nguy hiểm nhất trên cây táo và Táo lê ở Mỹ. Đối với loài sâu hại quả, Sâu đục quả (Cydia pomonella) được xác định là một trong những loài gây hại phổ biến và nguy hiểm đối với một số loài cây ăn quả như táo và Táo lê (Diane Alston và cộng sự, 2010). Theo tổ chức CABI (2017) Vòi voi (Conotrachelus nenuphar) lại được xem là loài nguy hiểm nhất đối với Táo lê. Tại Ấn Độ, Paul (2007) đã xác định loài Rệp lông (Eriosoma lanigerum) là một trong những loài gây hại quả chính đối với táo và Táo lê.
Ở Mỹ xác định loài Bọ xít (Lygus lineolaris) và một số loài thuộc giống Acrosternum và Euschistus hại táo và Táo lê (Trung tâm hội làm vườn thuộc trường đại học Clemson, 2001). Trong số các loài côn trùng hại thân, cành táo và Táo lê gồm có các loài sau: Rệp sáp vẩy (Chrysobothris femorata) và Rệp lông (Eriosoma m 7 lanigerum) là 2 loài gây hại nguy hiểm nhất. Ngoài ra còn có Sâu đục thân, Cành đầu dẹt (Chrysobothris femorata) cũng là loài thường thấy trên táo và Táo lê, đặc biệt là ở những cây bị còi cọc kém phát triển (Trung tâm hội làm vườn thuộc đại học Clemson, 2001). Ở một số nước trên thế giới các loài Táo lê hay Sơn tra thường được trồng làm cảnh quan trong khuôn viên các hộ gia đình.
Ở vùng ôn đới của Jammu và Kashmir Táo mèo (Docynia indica Dcne) là một loại hoa quả quan trọng quả của chúng nhiều dinh dưỡng, giàu đường, axit hữu cơ, vitamin, phốt pho, sắt và có giá trị chủ yếu là quả tráng miệng. Trước khi thu hoạch, chúng thường chỉ bị một số ít loài nấm bệnh gây hại (Chohan và Kaur, 1976), nhưng sau khi thu hoạch tính mẫn cảm của chúng đối với nấm bệnh tăng lên (Sumbali và Badyal, 1990). Những bệnh hại chủ yếu thường gặp trên chi táo nói chung và Táo mèo nói riêng là bệnh nấm vẩy ở lá, hoa, quả và bệnh cháy lá… Các loại bệnh như cháy lá, rụng hoa, quả và loét thân cành trên một số loài cây chủ trong đó có chi Docynia là do vi khuẩn Erwinia amylovora (Craig Adkins và cộng sự, 2009). Ở Ấn Độ, Táo lê thường lại bị bệnh nấm vẩy gây hại hoa, quả và lá và đã xác định tên loại bệnh hại này là do nấm Venturia inaequalis gây ra.
Loài nấm này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh trưởng của cây mà còn ảnh hưởng đến năng xuất sản lượng quả (Paul C. Trong một cuộc khảo sát đã tiến hành tại chợ trái cây Jammu, thấy những quả táo mèo bị thối do mốc xanh và được xác định là do nấm Penicillium expansum gây ra. (Yash Paul Singh và Geeta Sumbali, 2012) Theo kết quả nghiên cứu của trường đại học Pennsylvania năm 2017 đã xác định loài táo và Táo lê còn bị bệnh loét thân cành do nấm thuộc chi Botryosphaeria gây ra. Còn đối với kết quả nghiên cứu của trường đại học Cornell năm 2015 cho rằng bệnh rỉ sắt do nấm thuộc chi Gymnosporangium m 8 được ghi nhận gây hại lá và quả ở một số loài táo.
Mức độ gây hại của loài nấm này được xác định là một vấn đề nguy hiểm nhất các nơi trồng táo ở vùng phía Bắc nước Mỹ (Stephen Vann, FSA 7538) Bên cạnh đó các loài trong họ Botryosphaeriaceae gây bệnh trên táo và rất nhiều cây chủ khác trên thế giới. Trong một nghiên cứu của Leonardo về các loài táo ở miền nam Uruguay, nơi đây táo là sản phẩm nông sản chính của vùng này. Một số bệnh như loét cành, chết ngược và thối trái đã được xác định, trong đó bệnh loét cành gây hại nghiêm trọng. Từ 91 loài trong họ Botryosphaeriaceae phân lập được trong đó có tám loài thuộc các chi Botryosphaeria, Diplodia, Neofusicoccum và Lasiodiplodia đã được định danh.
Loài chủ yếu là Botryosphaeria dothidea sau đó là Diplodia seriata. Các loài khác được tìm thấy gồm Neofusicoccum parvum, D. australe và Lasiodiplodia theobromae. Đáng chú ý là nấm D.
theobromae lần đầu tiên được phát hiện trên táo. Tất cả tám loài trên đã được phân lập từ cả thân và quả ở những vùng trồng táo. Tất cả các loài phân lập được đều có khả năng gây ra các triệu chứng bệnh điển hình trên thân và quả khi gây bệnh nhân tạo và phân lập lại, nhưng những triệu trứng bệnh nghiêm trọng nhất bị gây ra bởi L. Một số loài nấm chỉ xuất hiện trên bề mặt trái cây đặc biệt là táo, chúng không thâm nhập vào bên trong.
Nhưng cũng làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ, một nghiên cứu của SBFS được thực hiện từ năm 2007 đến 2012 ở hai vùng trồng táo lớn nhất nước Đức. Ở cả hai vùng này cùng thấy sự xuất hiện thường xuyên của nấm Peltaster cerophilus là loài gây thiệt hại lớn cho sản lượng táo. Bên cạnh đó một số loài như Cyphellophora sessilis, Microcyclosporella mali và Schizothyrium pomi cũng xuất hiện và gây hại. Nhìn chung, các nghiên cứu về cây Sơn tra ở trên thế giới đã được thực m 9 hiện từ rất sớm với nhiều lĩnh vực.
Đây là những cơ sở khoa học quan trọng để tham khảo cho các nghiên cứu về cây Sơn tra ở Việt Nam và cho nghiên cứu này. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1.