Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ với tổng diện tích đất tự nhiên là 352.800ha, trong đó đất nông nghiệp khoảng 99. Chủ yếu là đất phù sa bồi và phù sa dốc tụ. Phân bố ở ven sông Hồng, sông Lô, sông Đà thích hợp cho việc gieo trồng các loại cây lương thực và cây chuối.
Về khí hậu tỉnh Phú Thọ thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa Hè nóng ẩm từ tháng 5 tới tháng 10 và mùa Đông lạnh, mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình của 12 tháng là 23,23oC, trong đó tháng cao nhất là tháng 6, nhiệt độ trung bình 29oC, thấp nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình 14,6oC. Tổng số giờ nắng trong 12 tháng là 1.239,2 giờ, cao nhất tháng 8 với 182,4 giờ nắng, thấp nhất tháng 3 với 33,6 giờ. Tổng lượng mưa của 12 tháng là 1.450,20 mm, lượng mưa cao nhất tháng 7: 351,9 thấp nhất tháng 11 chỉ đạt 28,2 mm.
Nhìn chung các yếu tố thời tiết khí hậu tại Phú Thọ có gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây chuối, các tháng đầu và cuối năm (tháng 1,2,3 và 11, 12) cây chuối sinh trưởng chậm, các tháng còn lại phát triển tương đối tốt. Đặc biệt vào các tháng 7, 8, 9 điều kiện thời tiết nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện rất thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, phát triển và phân hóa mầm hoa của cây chuối. Với điều kiện đất đai, nhiệt độ, lượng mưa và phân bố lượng mưa giữa các tháng trong năm như vậy nên khu vực này rất phù hợp cho phát triển các loại cây ăn quả nhiệt đới. Trong đó cây chuối trở thành cây cho sản phẩm mang tính hàng hóa của tỉnh Phú Thọ.
Phát triển cây chuối, đáp ứng được nhu cầu của người dân Phú Thọ, đảm bảo môi trường xanh và thu nhập cao cho nông dân, làm giảm khoảng cách giàu nghèo giữa vùng đô thị và nông thôn. Nông dân Phú Thọ có kinh nghiệm trồng và chăm sóc chuối, có vườn chuối cho thu nhập 150 - 200 triệu đồng/ha. Đến năm 2014 toàn tỉnh có khoảng 6 3100 ha với sản lượng ước tính 62,0 nghìn tấn. Trong các giống chuối đang trồng ở địa phương, cây chuối Tiêu hồng là cây trồng mới có nhiều ưu điểm vượt trội như khả năng thích nghi, mẫu mã quả đẹp; tỷ lệ quả xuất khẩu cao, có vị ngọt đặc trưng và không nhão quả về mùa Hè như giống chuối Đài Loan và chuối tiêu VN1.064 được trồng thuần tại địa phương.
Vì thế chuối Tiêu hồng được đánh giá là cây có giá trị kinh tế cao có thể góp phần vào thu nhập cho người dân tại Phú Thọ và bổ dung cơ cấu giống chuối cho tỉnh. Mặc dù vây, hiện trạng sản xuất chuối theo hướng hàng hóa tại các vùng chuối chính trong tỉnh còn một số tồn tại: sản xuất mạnh mún, nhỏ lẻ, phân tán, khả năng đầu tư thâm canh thấp, việc ứng dụng các kỹ thuật mới còn hạn chế; công tác quản lý và sản xuất giống còn nhiều bất cập; năng suất chưa cao, chất lượng chưa tốt; sản phẩm quả thiếu tính cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh đó, việc tiến hành đề tài khoa học với tiêu đề: ” Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với chuối Tiêu hồng tại Phú Thọ” là việc cấp thiết, nhằm xây dựng những vùng chuối tập trung có năng suất, chất lượng cao để thu nhập cho nông dân. Về mặt khoa học, các kết quả thu được từ công trình đóng góp thêm phần lý luận, một cách thức tiếp cận trong mối liên hệ giữa các đặc tính nông sinh học của một chủng loại cây ăn quả ngắn ngày, có thân giả với một số yếu tố kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đến đời sống cây trồng, thông qua đó mà xác định sự tối ưu của các biện pháp thâm canh như mật độ, thời vụ, dinh dưỡng khoáng, vật liệu chống đổ, phòng trừ sâu bệnh hại và thời điểm bao buồng quả.
Thêm vào đó, hệ thống các đặc trưng nông sinh học của giống chuối Tiêu hồng khi được trồng ở một vùng cách khá xa với nơi phát sinh được đề tài nghiên cứu tương đối công phu và bài bản cũng được coi là nguồn tư liệu quý làm chỗ dựa tham khảo tốt cho những nghiên cứu kỹ thuật về sau. Về mặt thực tiễn, các kết quả xác định một số biện pháp kỹ thuật quan trọng trong sản xuất giống chuối tiêu hồng tại tỉnh Phú Thọ là nền tảng rất cơ bản để xây dựng và hoàn thiện quy trình trồng cụ thể trên một địa bàn cụ thể theo hướng hàng hóa với hiệu quả kinh tế cao, người trồng và các cơ quan chỉ đạo kỹ thuật có thể áp dụng trực tiếp vào thực tiễn sản xuất của địa phương mình. Nguồn gốc, phân loại và một số giống chuối phổ biến trên thế giới và Việt Nam 1. Nguồn gốc và phân loại 1.
Nguồn gốc Chi chuối (Musa) có nguồn gốc từ vùng châu Á nhiệt đới và được thuần hóa rất sớm ở vùng Đông Nam Á. Nhiều loài chuối dại vẫn còn mọc lên ở New Guinea, Malaysia, Indonesia, và Philippines. Theo Simmond and Shepherd (1955) [61], nguồn gốc của các giống chuối ăn được đều xuất phát từ 2 loài chuối dại có hạt trong chi Musa là Musa acuminata và Musa balbisiana. Chính sự tái tổ hợp trong điều kiện tự nhiên và qua nhiều đời giữa 2 loài này đã hình thành nên rất nhiều nhóm giống chuối.
Trong đó nhóm phụ Cavendish mang kiểu gen AAA với rất nhiều giống chuối thương mại đã và đang được trồng trọt rộng rãi ở rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Các nghiên cứu về chọn tạo giống và phát triển sản xuất chuối chủ yếu được thực hiện đối với nhóm phụ này. Cho đến nay, vẫn còn có ý kiến trái ngược nhau về nguồn gốc của cây chuối. Tuy nhiên, Stover and Simmonds (1987) [64] and Valmayor, Espino.
Pascua (2002) [60], nguồn gốc phát sinh của cây chuối là một vùng rộng lớn bao gồm Ấn Độ, các nước vùng Đông Nam châu Á và khu vực Thái Bình Dương. Ngày nay, cây chuối đã được phát triển ở hầu khắp các vùng nhiệt đới ẩm trên thế giới. Người ta đã tìm thấy sự đa dạng về nguồn gen cây chuối không chỉ ở nơi phát sinh nguồn gốc mà còn ở khu vực Nam Mỹ, Đông và Tây Phi. Hiện nay trên thế giới có khoảng 130 quốc gia trồng chuối với nhiều mục đích khác nhau: chủ yếu dùng ăn tươi, kế đến là dùng để lấy sợi, sản xuất rượu chuối và làm cây cảnh.
Phân loại và một số giống chuối trên thế giới và Việt Nam Để thuận tiện cho việc phân loại người ta đặt tên cho chuối là những đuôi Latinh chỉ căn cứ vào tất cả vào đặc điểm ngoại hình không cần quan tâm đến nguồn gốc di truyền. 8 Theo Simmond, (1962)[62], số lượng chuối trồng trên thế giới có khoảng 100 - 300 giống chuối khác nhau và tất cả các giống chuối ăn được đều thuộc nhóm Eumusa, được hình thành do sự kết hợp 2 loài chuối dại Musa acuminata (A) và Musa balbisiana (B), trong đó những kiều gen đều có gen A và gen B, bên cạnh một số ít ngoại lệ. Đại bộ phận các giống chuối này là tam bội thể (AAA, AAB, ABB), nhị bội thể (AA, AB, BB), còn tứ bội thể thì rất hiếm (chỉ có một giống ở Thái Lan). Theo hệ thống phân loại của Simmond, (1962)[62] dựa trên số lượng nhiễm sắc thể và cho điểm các đặc điểm hình thái của 2 loài M.
balbisianata (B) theo 15 đặc điểm thực vật học. Theo hệ thống phân loại này các giống chuối hiện nay được phân 5 nhóm theo kiểu gen như sau (Nguyễn Thị Việt Nga, 1996) [25]. Kiểu gen AA Trong nhóm này có các giống: chuối Trứng, chuối Tay Bụt, chuối Cau Trắng, chuối Ngự Thóc, chuối Ngự Tiến, chuối Tiến, chuối Pisang Mas (Malayxia), Ladies Finger (Hawai). Các giống này thường có quả nhỏ, vỏ mỏng, chất lượng cao, năng suất thấp, kháng bệnh Panama nhưng mẫm cảm với bệnh Sigatoka.
Kiểu gen AAA Trong nhóm này thường có các giống: chuối Tiêu lùn (chuối Cavendish), chuối Tiêu nhỡ (chuối Giant Cavendish), chuối Tiêu cao (giống cây tam bội), chuối Già Hương (chuối Chiquita), chuối Cơm Lửa (chuối Cau Lửa), chuối Tiêu xanh (chuối Robusta), chuối cao nguyên Đông Phi (phân nhóm AAA), chuối Tiêu vừa, chuối Tiêu hồng, Pingsa Embun (Malaysia), Chinese (Hawai),. Các giống thuộc nhóm này có năng suất, chất lượng tốt hợp với trồng ở vùng vĩ tuyến cao, mùa đông lạnh, có khả năng kháng bệnh Panama nhưng mẫm cảm với bệnh Sigatoka. Kiểu gen AAB Trong nhóm này bao gồm rất nhiều chủng loại đa số là chuối ưa nóng như: chuối Goòng, chuối Cơm Chua, chuối Trăm Nải, chuối Sừng Bò, chuối 9 Voi, Chuối Mắn, chuối Tây Bột, chuối Xiêm Mật. Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ trồng để ăn tươi, đôi khi nấu chín, chiên.
Nhóm này có đặc điểm là cây cao, sinh trưởng khỏe, không kén đất có thể trồng không tưới, không bón phân trên những đồi dốc mới khai phá (đặc biệt là chuối Bom). Ngoài ra, thân non, hoa chuối ít có vị chát, có thể dùng ăn tươi (chuối Tây). Kiều gen BB Đại diện nhóm này là chuối hột. Đặc điểm: cây sinh trưởng khỏe, chịu nóng, chịu hạn khá, chống chịu sâu bệnh rất tốt, quả có chứa nhiều hạt, nhiều tinh bột, thân dùng làm rau sống.
Kiểu gen BBB Nhóm này gồm các giống: chuối Mật, chuối Ngự, chuối Sáp. Theo hệ thống phân loại của simmond , chi Emusa gồm 9 - 10 loài, số lượng nhiễm sắc thể cơ sở là 11, số lượng giống lên tới 131 và phân bố như sau: arantaceae Musaceea Zingiberaceae Ensete Musa Ingentinusa Australimusa Calimusa Eumusa Rhodochiamys Bảng 1. Phân loại và sự phân bố của các chi thuộc Musa Số nhiễm sắc Chi Số loài Phân bố thể cơ sở Australimusa 10 5-6 Queensland đến Philippin Callimusa 10 5-6 Đông Dương và Indonesia Eumusa 11 9 - 10 Nam Ấn Độ đến Nhật Bản Rhodochiamys 11 5-6 Ấn Độ đến Đông Nam Á Ingentinusa 14 1 New Guinea 10 Theo Trần Thế Tục (1998) [33] các giống chuối chính ở miền Bắc nước ta được xếp thành 5 nhóm như sau: Nhóm chuối Tiêu (miền Bắc), chuối già (miền Nam) (Cavendish): nhóm này có 3 giống là Tiêu (già) lùn, Tiêu nhỡ, Tiêu cao. Năng suất quả từ trung bình đến rất cao, phẩm chất thơm ngon, thích hợp cho xuất khẩu quả tươi, thích hợp với vùng có khí hậu mùa đông lạnh.
Giống chuối Tiêu ở miền Bắc bình quân đạt 13-14 kg/buồng, năng suất trung bình đạt 12-15 tấn/ha.