mở đầu thời kỳ dùng lạc trên quy mô lớn. Công nghiệp ép dầu đã được xây dựng với tốc độ nhanh ở các nước Châu Âu và trên toàn thế giới. Gần đây người ta chú ý nhiều hơn tới nguồn protein trong lạc, nhân loại hy vọng vào các loại cây bộ đậu sẽ giải quyết nạn đói protein trước mắt và trong tương lai. Trong các cây bộ đậu diện tích lạc đứng thứ hai sau đậu tương.
Diện tích trồng lạc trên thế giới đạt 23 - 24 triệu ha và sản lượng đạt tới 30 triệu tấn/năm. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lượng Tên nước (triệu/ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2009 2010 2011 2009 2010 2011 2009 2010 2011 Thế giới 23,93 25,30 21,78 1,52 1,66 1,77 36,45 41,89 38,61 Ấn Độ 5,47 5,94 4,19 1,00 1,39 1,65 5,42 8,26 6,93 Trung Quốc 4,40 4,55 4,67 3,36 3,45 3,45 14,76 15,70 16,11 Nigeria 2,64 2,79 2,34 1,12 1,36 1,26 2,98 3,79 2,96 Senegal 1,05 1,19 0,86 0,97 1,07 0,60 1,03 1,28 0,52 Châu Mỹ 0,98 1,01 0,99 2,95 3,09 3,06 2,90 3,13 3,04 Indonesia 0,62 0,62 0,54 1,25 1,25 1,28 0,77 0,78 0,70 Việt Nam 0,24 0,23 0,22 2,08 2,10 2,08 0,51 0,49 0,46 Nguồn: Faostat, http://faostat.org Qua bảng 1.1 cho thấy: Diện tích trồng lạc của các nước trên trên thế giới đều có sự biến động. Chỉ riêng Trung Quốc là nước có diện tích trồng lạc tăng liên tục năm 2011 tăng (0,27 triệu ha) so với năm 2009. Năm 2009 - 2010 Ấn Độ có diện tích trồng lạc tăng lên 0,49 triệu ha, nhưng từ 2010 - 2011 diện tích lại giảm 1,75 triệu tấn (năm 2011 chỉ còn 4,19 triệu tấn).
Nigeria diện tích tăng năm 2009 và 2010 tuy nhiên tốc độ tăng chậm, nhưng đến năm 2011 lại giảm (0,3triệu ha) so với 2009. Senegal diện tích năm 2011 (0,86 triệu ha) giảm so với 2010 (0,33 triệu ha) và (0,19 triệu ha) so với năm 2009. Với Châu Mỹ có diện tích trồng lạc nhỏ, năm 2009 (0,98 triệu ha) năm 2010 có sự tăng diện tích (0,02 triệu ha) so với năm 2011. Indonesia là nước có diện tích trồng lạc giảm liên tục qua các năm từ 2009 đến 2011 tính đến năm 2011 đã giảm (0,08 triệu ha) so với 2009.
Điều đó chứng tỏ cây lạc không được chú trọng đầu tư mở rộng diện tích ở đây. Ở Việt Nam diện tích cây lạc cũng giảm liên tục, năm 2009 diện tích chiếm 1,0% tổng diện tích n 5 trồng lạc thế giới. Đến năm 2010 diện tích lại giảm (0,01 triệu ha) so với năm 2009. Năm 2011 lúc này diện tích của Việt Nam chiếm 1,01% tổng diện tích trồng lạc thế giới.
Việc tăng năng suất lạc ở nhiều quốc gia là nhờ ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học công nghệ mới trên đồng ruộng nông dân. Kinh nghiệm của Ấn Độ cho thấy nếu chỉ sử dụng giống mới kết hợp với kỹ thuật canh tác tiến bộ đã tăng năng suất lạc 50 - 60%. Tại Trung Quốc đã sử dụng 90 - 95% giống mới cùng nhiều biện pháp kỹ thuật như cày sâu, bón phân cân đối, mật độ trồng hợp lý, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, đặc biệt là áp dụng biện pháp che phủ ni lông đã làm tăng năng suất 20 - 50%. Giai đoạn từ 2009 - 2011, năng suất lạc thế giới tăng chậm.
Năm 2011 là 177 tấn/ ha, tăng 0,25 tấn/ ha so với năm 2009. Các nước có năng suất lạc tăng đó là: Ấn Độ, Indonesia. Trong đó năng suất tăng nhiều nhất là Ấn Độ năm 2011 tăng (0,65 tấn/ha) so với năm 2009. Các nước có năng suất tăng, giảm không ổn định là: Nigeria, Senegal, Châu Mỹ.
Trong đó Nigeria năm 2011 giảm (0,1 tấn/ha) so với năm 2010. Về Senegal năm 2011 giảm (0,37 tấn/ha) so với năm 2009. Còn Châu Mỹ năng suất lạc năm 2011 cũng giảm (0,11 tấn/ha) so với năm 2009. Ở các nước này, sản xuất lạc sớm được đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng và sớm có những thành công vượt trội.
Tuy nhiên, giai đoạn này đang bị chững lại. Ở Việt Nam năng suất giai đoạn này tăng giảm không đáng kể, năm 2011giảm (0,02 tấn/ha) so với 2010. Sản lượng lạc thế giới giai đoạn 2011 giảm (3,28 triệu tấn) so với năm 2010 tăng (2,16 triệu tấn) so với năm 2009. Sản lượng giảm không phải do năng suất lạc giảm mà chủ yếu do diện tích trồng lạc giảm.
Trung Quốc là nước có sản lượng lạc lớn. Tuy những năm gần đây có xu hướng giảm nhưng vẫn luôn chiếm vị trí đứng đầu thế giới đạt (16,11 triệu tấn) trong năm 2011, trong khi sản lượng lạc của Việt Nam chỉ đạt (0,46 triệu tấn). n 6 Hiện nay, lạc là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn. Trong những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, sản lượng lạc xuất khẩu trên thế giới bình quân chỉ đạt (1,11 - 1,16 triệu tấn/năm) đến năm 1997 - 1998 tăng lên (1,39 triệu tấn) và đến năm 2001 - 2002 đạt (1,58 triệu tấn).
Trong đó châu Mỹ và châu Á là 2 khu vực xuất khẩu nhiều nhất chiếm 70% sản lượng lạc xuất khẩu của thế giới. Ở khu vực Đông Nam Á, trong những năm 80 của thế kỷ 20, xuất khẩu lạc hàng năm ở chỉ đạt (0,32 triệu tấn/năm). Trong đó, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Singapore là các nước xuất khẩu lạc nhiều. Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn Độ, Việt Nam là những nước xuất khẩu lạc nhiều trên thế giới.
Ngược lại, Hà Lan, Canada, Đức, Nhật, Singapore, Pháp. là những nước nhập khẩu lạc nhiều trên thế giới. Từ năm 1991 đến năm 2000, Trung Quốc là nước xuất khẩu lạc nhiều nhất, hàng năm trung bình xuất khẩu gần (78 nghìn tấn), chiếm trên 26,5% tổng sản lượng lạc xuất khẩu của thế giới. Đứng thứ 2 là Mỹ, trung bình hang năm xuất khẩu (67,3 nghìn tấn), chiếm 22,9% tổng lượng xuất khẩu lạc thế giới.
Achentina là nước đứng thứ 3 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu (36,2 nghìn tấn), chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới. Hà Lan là nước nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới từ năm 1991 - 2000, trung bình hàng năm nhập khẩu (39,8 nghìn tấn), chiếm 13,9% tổng lượng lạc nhập khẩu tấn) lạc mỗi năm. Trên thế giới các nước xuất khẩu lạc nhiều là Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn Độ. Các nước nhập khẩu hàng năm lớn như Hà lan, Indonexia, Anh, Singgapo, Đức.
Một số yếu tố hạn chế chính đến sản xuất lạc trên thế giới Lạc là cây trồng có tiềm năng cho năng suất rất cao, tuy nhiên nhiều nơi con người chưa khai thác được tiềm năng này. Diện tích trồng lạc của nhiều nước giảm, năng suất lạc thấp. Để giải quyết vấn đề này, việc xác định n 7 các yếu tố hạn chế đến sản xuất lạc là cần thiết. Trong nhiều năm qua các nhà khoa học trên thế giới đã xác định được ba nhóm yếu tố hạn chế chính là: Kinh tế xã hội, phi sinh học và sinh học.
Về các yếu tố kinh tế - xã hội, Willam M. (1987) [51] đã chỉ ra rằng các yếu tố quan trọng nhất hạn chế sản xuất đậu đỗ là thiếu sự quan tâm chú ý ưu tiên phát triển cây đậu đỗ kể cả phía nhà nước và nông dân. Nhiều nơi, con người chủ yếu chú trọng phát triển cây lương thực, coi cây đậu đỗ là cây trồng phụ. Nhiều nước nông dân nghèo không có cơ hội tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật trồng lạc mới, để hạn chế yếu tố này chính phủ và các nhà khoa học nhiều nước đã tìm cách chia sẻ với nông dân trồng lạc.
Tuy nhiên, việc này chưa được phổ biến. Thị trường tiêu thụ lạc không ổn định cũng là yếu tố hạn chế đến sản xuất lạc. Về các yếu tố phi sinh học như khô hạn, đất chua, nghèo dinh dưỡng là yếu tố hạn chế lớn đến sản xuất lạc. Theo Carangal và các cộng sự (1987) [32], cho rằng các yếu tố khí hậu, điều kiện đất, chế độ mưa là những yếu tố hạn chế năng suất đậu đỗ ở hầu hết khu vực châu Á.
Sarma (1984) [47], Nageswara Rao (1985) [42], [43], các tác giả chỉ ra rằng nhiều khu vực trên thế giới, trở ngại lớn nhất đến phát triển diện tích và tăng năng suất lạc là yếu tố nước. Bhagsari (1976) [26], Black (1985) [27], Chapman (1989) [34], Wright (1992) [52], Ben Hur (1995) [28] cho rằng, những vùng trồng lạc nhờ nước trời, thiên nhiên không cung cấp đủ nước cho cây lạc do vậy, khô hạn luôn là yếu tố hạn chế đối với cây lạc, năng suất thường thấp và không ổn định. Patel (1983) [45] cho rằng, đất thiếu nước cây thấp, sinh trưởng kém, năng suất thấp. Đất chua, mặn, nghèo dinh dưỡng là yếu tố hạn chế sản xuất lạc.
Shalhevet (1968) cho biết lạc được trồng trên đất có độ mặn 4.900 micromhos/cm thì sản lượng giảm 50 %, nếu độ mặn là 6.500 micromhos/cm thì không có sản lượng. Reid và Cox (1973) [46], khẳng định lạc trồng trên đất có pH dưới 5 thường cho năng suất thấp. Đất thiếu Zn cây lạc có số hoa, tia quả giảm, sinh trưởng của rễ và thân cây n 8 chậm, thiếu Bo quả không có hạt. Caswell (1987) [33], Bruce (1987) [30], Murata (2002) [40] chỉ ra rằng sự mất cân đối, thiếu hụt các chất dinh dưỡng ở trong đất là nguyên nhân dẫn đến năng suất lạc thấp.
Beck (1987) [29], Brady (1994) [31], Maccio (2002) [39] đã cho biết đất chua, hàm lượng P, Ca, Mg, Mo thấp, Al và Mn cao ức chế sự hình thành và hoạt động của nốt sần, hạn chế quá trình cố định đạm sinh học ở cây lạc, từ đó dẫn đến năng suất thấp. Như vậy, đảm bảo chế độ dinh dưỡng đủ và cân đối là rất cần thiết để cây lạc phát huy hết tiềm năng cho năng suất cao. Lạc là cây mẫn cảm với nhiệt độ và cường độ ánh sáng ngày ngắn. Cường độ ánh sáng thấp vào thời kỳ ra hoa làm cho lạc sinh trưởng chậm, cành sinh sản bị ức chế, hoa rụng; vào thời kỳ đâm tia, hình thành quả làm số lượng tia và quả giảm (Hudgens và Mc Cloud, 1974) [36].
Nhiệt độ đất dưới 20 0C hoặc lớn hơn 35 0C đều là yếu tố hạn chế, làm quả lạc chậm hay ngừng phát triển dẫn đến năng suất lạc thấp (Ono Y. Nhiệt độ đất thấp, kết hợp thiếu nước làm cây lạc thấp, lá vàng khô, mã quả xấu, năng suất thấp; còn nhiệt độ cao kết hợp hạn làm cây thấp, thân nhỏ yếu lá nhỏ, quả bé năng suất thấp (Leong S. Nhiệt độ đất thấp dưới 120C hạt lạc không nảy mầm được, lạc nẩy mầm và sinh trưởng tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ 28-350C.