ĐẶT VẤN ĐỀ Cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba cây ngũ cốc chính và quan trọng của loài người, ngô là cây lương thực góp phần giải quyết lương thực cho khoảng 6 tỷ người trên hành tinh chúng ta. Toàn thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm lương thực. Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và châu Phi người ta sử dụng ngô làm lương thực chính cho con người với phương thức rất đa dạng tuỳ theo từng vùng địa lý và tập quán từng nơi. Các nước Đông Nam Phi sử dụng 85% sản lượng ngô làm lương thực, Tây Phi 80%, Bắc Phi 42%, Tây Á 27%, Nam Á 75%, Đông Nam Á và Thái Bình Dương 39%, Đông Á 30%, Trung Mỹ và Caribe 61%.
Ngô là nguồn dinh dưỡng chính của loài người, đã giúp cho loài người giải quyết nạn đói thường xuyên đe doạ, “là cây báo hiệu sự no ấm”. Bên cạnh giá trị làm lương thực, ngô còn là cây thức ăn gia súc quan trọng, 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp cho gia súc và gia cầm là từ ngô. Ở các nước phát triển có nền chăn nuôi công nghiệp đã sử dụng 70 - 90% sản lượng ngô cho chăn nuôi như Hungari 97%, Pháp 90%, Mỹ 89%, Rumani 69%.Cây ngô là thức ăn xanh và ủ chua rất tốt cho chăn nuôi gia súc lớn, đặc biệt là bò sữa. Những năm gần đây ngô còn là cây thực phẩm được ưa chuộng.
Ngô rau (ngô bao tử - baby corn) có giá trị kinh tế hàng hoá và giá trị dinh dưỡng rất cao so với các loại rau cao cấp khác. Ngoài ra, ngô còn là nguyên liệu của công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghệ y dược và công nghiệp nhẹ. Hiện nay hoạt động sản xuất Ethanol từ nguyên liệu ngô đang phát triển mạnh và Mỹ là nước đứng đầu trong ngành này. Nhu cầu về lương thực nói chung và ngô nói riêng đang tăng nhanh trên toàn cầu, mậu dịch ngô thế giới tăng liên tục trong mấy năm gần đây.
1 n Ở Việt Nam, cây ngô đã có mặt cách đây 300 năm, mặc dù là cây lương thực đứng thứ 2 sau lúa nhưng thời gian đầu do không được chú trọng nên cây ngô chưa phát huy tiềm năng của nó. Năng suất ngô Việt Nam những năm 1960 chỉ đạt trên 1 tấn/ha, với diện tích hơn 200 nghìn ha. Đến đầu những năm 1990, nhờ hợp tác với Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng năng suất lên gần 1,5 tấn/ha. Tuy nhiên, sản xuất ngô nước ta chỉ thực sự có những bước tiến nhảy vọt từ những năm 1990 đến nay, đồng thời với việc không ngừng mở rộng diện tích ngô lai, các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến đã được áp dụng trong sản xuất.
Năm 1991, diện tích trồng ngô lai chỉ đạt 1%, nhưng năm 2007 ngô lai đã chiếm khoảng 95% tổng diện tích. Năng suất ngô ở nước ta cũng tăng nhanh liên tục, năm 1980 năng suất ngô nước ta chỉ bằng 34% so với năng suất trung bình thế giới nhưng năm 2007 đã đạt 81%. Năm 2008 chúng ta đạt diện tích, năng suất và sản lượng ngô cao nhất từ trước tới nay: diện tích là 1.900 ha, năng suất 40,2 tạ/ha, sản lượng đạt 4. Hạn hán đang là vấn đề toàn cầu và nguy cơ này song hành cùng quá trình biến đổi khí hậu.
Trong sản xuất nông nghiệp, quá trình hạn xảy ra trong thời gian canh tác có thể gây sút giảm về mặt sản lượng cho cây trồng. Việc tìm ra các giống cây trồng có khả năng duy trì sản lượng trước tình hình thời tiết khô hạn là hướng ưu tiên của các nhà nghiên cứu nông nghiệp hiện nay. Những giống ngô chịu hạn mới sẽ góp phần đáng kể vào việc phân tán rủi ro đối với vụ mùa. Nhất là khi hơn một phần tư trên tổng số 1 tỷ người dân châu Phi phụ thuộc vào ngô như là thực phẩm thiết yếu hàng ngày.
Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO) cảnh báo nguy cơ thiếu lương thực ở các nước nghèo do thời tiết khô nóng làm giảm sản lượng thu hoạch và đẩy giá lương thực tăng cao. Ở Việt Nam có đến 70% diện tích trồng ngô phụ thuộc vào nước trời dẫn đến nguy cơ bị hạn rất lớn. Vì vậy, việc tạo 2 n ra các giống ngô có khả năng duy trì năng suất trong điều kiện khô hạn là hướng ưu tiên hàng đầu của các nhà nghiên cứu ngô hiện nay. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng chiụ hạn của một số giống ngô lai tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” 1.
MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục đích Chọn được giống có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và có khả năng chịu hạn phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu - Nghiên cứu phản ứng của một số chỉ tiêu hình thái liên quan đến tính chịu hạn ở ngô. - Nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ tiêu hình thái và năng suất của các giống thí nghiệm trong điều kiện không tưới so với điều kiện có tưới.
- Xác định các chỉ số hạn để đánh giá khả năng chịu hạn của các giống ngô thí nghiệm. - Theo dõi một số đặc điểm nông học của giống ưu tú trong mô hình trình diễn. 3 n PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Theo số liệu điều tra của CIMMYT, trên thế giới hàng năm hạn gây tổn thất khoảng 8,8 triệu tấn ngô hạt ở vùng nhiệt đới thấp, khoảng 7,7 triệu tấn ở vùng cận nhiệt đới và khoảng 3,9 triệu tấn ở vùng núi cao.
Như vậy thế giới bị tổn thất khoảng 20,4 triệu tấn do ngô hạn, chiếm 17% tổng sản lượng (Edmeades, 2001) [35]. Năm 2006, sản lượng bắp của Mỹ giảm 5% là do đất đai khô cằn. Tại Úc, nơi hạn hán triền miên từ năm 2002, lần đầu tiên trong vòng 40 năm qua, một số nông dân không thu hoạch được hạt lúa mì nào. Trong khi đó, do khô hạn người dân trồng bắp ở Argentina phải hoãn xuống giống mùa vụ năm nay.
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa hạn là yếu tố thường xuyên tác động gây ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng, ảnh hưởng xấu đến năng suất và phẩm chất của chúng. Trong chọn giống ngô chịu hạn, các nhà khoa học CIMMYT coi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất là các tính trạng trực tiếp, còn các tính trạng đóng góp vào việc cải thiện năng suất như diện tích lá, số lá, tốc độ ra lá, … được gọi là các tính trạng gián tiếp. Tính trạng gián tiếp có thể cải thiện độ chính xác của việc xác định vật liệu cho môi trường cần chọn, thể hiện được mức độ bất thuận mà cây trồng đang gặp phải. Tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng và ảnh hưởng của nó mức độ chống chịu hạn khác nhau mà người nghiên cứu các tính trạng khác nhau: như giai đoạn cây con trước trỗ; mật độ gieo trồng; tốc độ tăng trưởng của bộ rễ; tốc độ dài của lá; khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu.
Giai đoạn trỗ cờ - kết hạt, các chỉ tiêu được nghiên cứu như: sự trùng khớp giữa tung phấn và phun râu; số bắp/cây; tuổi thọ của lá; mức độ héo của lá; diện tích lá tại đốt mang bắp; tỷ lệ hạt/bắp, ngoài ra một số chỉ tiêu khác cũng được dùng để đánh giá tính chịu hạn đó là nhiệt độ 4 n bề mặt lá giảm khi hạn, tính kháng sại sự đóng khí khổng hay hàm lượng ABA trong lá khi gặp hạn (Ludewig M và cs, 1998) [44]. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT NGÔ TRÊN THẾ GIỚI Ngô không chỉ có vai trò là nguồn cung cấp lương thực cho con người và làm thức ăn cho chăn nuôi mà còn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Bởi vậy rất nhiều nước trên thế giới đã quan tâm và đẩy mạnh việc nghiên cứu và phát triển sản xuất ngô. Trong những năm gần đây nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên cây ngô đã không ngừng được nâng cao về diện tích, năng suất cũng như sản lượng.
Trên thế giới hiện nay có khoảng 75 nước trồng ngô bao gồm cả các nước công nghiệp và các nước đang phát triển, mỗi nước trồng ít nhất 100. Trong 25 nước sản xuất ngô hàng đầu thế giới có 8 nước phát triển, 17 nước đang phát triển. Có khoảng 200 triệu nông dân trồng ngô trên toàn cầu, 98% là nông dân ở các nước đang phát triển, 75% số người trồng ngô ở Châu Á, khoảng từ 15 - 20% ở Châu Phi và 5% ở Châu Mỹ La tinh. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 1961 - 2010 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Năm 1961 105,5 19,0 205,0 2000 137,0 43,2 592,5 2001 137,5 44,8 615,5 2002 137,3 44,1 604,9 2003 144,7 44,6 645,2 2004 147,5 49,4 729,2 2005 147,4 48,4 713,9 2006 148,6 47,5 706,3 2007 158,6 49,7 788,1 2008 161,0 51,1 822,7 2009 159,5 51,2 817,1 2010 162,3 50,6 820,6 Nguồn: FAOSTAT, 2011 [36], USDA, 2011[55] 5 n Bảng 2.
Tình hình sản xuất ngô ở một số vùng trên thế giới năm 2008-2009 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Năm 2008 2009 2008 2009 2008 2009 Vùng Thế giới 161 159,5 51,1 51,2 822,7 817,1 Châu Phi 29,2 30,3 18,2 18,7 53,2 56,7 Châu Mỹ 64,1 62,5 68,3 70,8 438,2 442,2 Châu Á 52,2 52,9 45,5 44,2 237,6 233,6 Châu Âu 15,5 13,8 60,2 60,8 93,1 84,0 Châu Đại Dương 0,1 30,3 66,5 68,7 0,6 0,6 Nguồn: FAOSTAT, 2011[36] Trong các cây ngũ cốc thì ngô đứng thứ ba về diện tích, đứng đầu về sản lượng và năng suất. Theo số liệu thống kê của FAO, năm 2004, năng suất ngô trung bình của thế giới đạt 4,94 tấn/ha, sản lượng đạt 729,2 triệu tấn cao hơn so với năng suất, sản lượng lúa mỳ và lúa nước. Năm 2007, diện tích ngô đạt 158,6 triệu ha, năng suất 4,97 tấn/ha và sản lượng là 788,1 triệu tấn, trong khi đó lúa mỳ diện tích chỉ đạt 217,2 triệu ha, năng suất 2,8 tấn/ha và sản lượng 603,6 triệu tấn; lúa nước diện tích thấp hơn chỉ đạt 153,7 triệu ha, năng suất 4,1 tấn/ha, sản lượng 626,7 triệu tấn (FAOSTAT, 2011) [36]. Về mặt dinh dưỡng ngô là cây có giá trị dinh dưỡng cao so với các cây ngũ cốc khác.
Chính vì vậy ngô sớm trở thành cây lương thực quan trọng của nhiều nước và khu vực trên thế giới.