Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Sản xuất nông nghiệp thế giới ngày nay luôn phải trả lời câu hỏi: Làm thế nào để cung cấp đủ năng lượng cho 8 tỷ người vào năm 2021 và 16 tỷ người vào năm 2030? Để giải quyết vấn đề này ngoài biện pháp kỹ thuật canh tác bền vững, đòi hỏi các nhà khoa học phải nhanh chóng tạo ra những giống cây lương thực mới có năng suất cao, ổn định đáp ứng được yêu cầu của một nền nông nghiệp hiện đại. Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao năng suất và sản lượng. Tuy nhiên một giống chỉ được coi là thực sự phát huy hiệu quả khi có tiềm năng năng suất cao và thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng.
Vì vậy các giống mới cần được khảo nghiệm trước khi đưa ra sản xuất, để đánh giá đầy đủ, khách quan khả năng thích nghi của giống với vùng sinh thái cũng như khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu với những điều kiện bất lợi khác. Xuất phát từ nhu cầu thực tế của tỉnh Hà giang, chúng tôi đã tiến hành đề tài này để xác định được những giống ngô lai có triển vọng đưa vào sản xuất đại trà, góp phần làm tăng năng suất và sản lượng ngô của tỉnh. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.
Trên thế giới có khoảng 140 nước trồng ngô với tổng diện tích năm 2012 là 167,99 triệu ha, năng suất 49,44 tạ/ha và sản lượng 874,33 triệu tấn (FAOSTAT, 2013)[20]. Theo thống kê của ISAAA, 2/3 diện tích tập trung ở các nước đang phát triển, tuy nhiên 2/3 sản lượng ngô trên thế giới lại tập trung ở các nước phát triển (ISAAA, 2012)[6].1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới một số năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2004 147,42 4,94 728,25 2005 147,76 4,84 715,16 2006 146,73 4,76 698,43 2007 157,87 4,97 784,61 2008 161,02 5,13 826,03 2009 158,80 5,16 819,41 2010 161,80 5,22 844,60 2011 171,78 5,15 884,67 2012 176,99 4,94 874,33 (Nguồn: FAOSTAT, 2013)[20] Số liệu bảng 1. cho thấy, sản xuất ngô trên thế giới tăng lên không ngừng cả về diện tích và năng suất. Năm 2004 cả thế giới trồng được 147,42 triệu ha, năm 2010 là 161,8 triệu ha và năm 2012 đạt 176,99 triệu ha.
Năng suất ngô tăng liên tục từ năm 2004 (4,94 tấn/ha) đến 2010 (5,22 tấn/ha), tuy nhiên năng suất ngô năm 2012 bị giảm nhẹ so với năm 2010, đạt 4,94 tấn/ha (giảm 0,28 tấn/ha). Do diện tích và năng suất tăng nên sản lượng ngô năm 2012 đạt cao nhất là 874,33 triệu tấn. Mỹ là nước sản xuất ngô lớn nhất thế giới, chiếm hơn 40% tổng sản lượng ngô thế giới. Việc sử dụng các giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930.
Năm 1993 đã có 100% diện tích ngô của Mỹ là trồng các giống ngô lai trong đó hơn 90% là giống ngô lai đơn (Ngô Hữu Tình và cs., 1997)[12], năm 2012, năng suất ngô trung bình của Mỹ là 95,9 tạ/ha.2: Diện tích trồng ngô của một số nước trên thế giới năm 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Tên nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn Mỹ 32,9 95,9 331,2 Trung Quốc 32,5 54,6 177,5 Brazil 12,8 43,7 56,1 Israel 0,02 283,9 0,80 Hy Lạp 0,20 117,3 2,20 (Nguồn FAOSTAT, 2013)[20] Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới, năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp. Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 22%.3: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 Năm 1997 Năm 2020 % Vùng (triệu tấn) (triệu tấn) thay đổi Thế giới 586 852 45 Các nước đang phát triển 295 508 72 Đông Á 136 252 85 Nam Á 14 19 36 Cận Sahara – Châu Phi 29 52 79 Mỹ Latinh 75 118 57 Tây và Bắc Phi 18 28 56 Nguồn: IRRI (2003)[22] 1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Cây ngô được đưa vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm. Tuy nhiên những nghiên cứu về cây ngô ở Việt Nam bắt đầu muộn hơn so với n 7 các nước trong khu vực, năm 1973 mới có những định hướng phát triển ngô ở Việt Nam.4: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam năm 2004 – 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (1000 ha) (tạ/ha) (1000 tấn) 2004 991,1 34,6 3.803,2 Nguồn: (FAOSTAT, 2013)[20] Số liệu bảng 1.4 cho thấy, diện tích trồng ngô của nước ta tăng dần từ 991,10 nghìn ha (năm 2004), đến 1126,3 nghìn ha (năm 2010), sau đó diện tích có giảm xuống 1118,2 nghìn ha năm 2012.
Năng suất tăng từ 34,62 tạ/ha (năm 2004), đến 42,9 tạ/ha (năm 2012). Do vậy sản lượng ngô đã tăng từ 3. Sản lượng ngô ở nước ta tăng khá nhanh, song nhu cầu nguyên liệu để chế biến thức ăn chăn nuôi tăng với tốc độ cao hơn nên nước ta từ một nước xuất khẩu ngô (250 nghìn tấn năm 1996) đã trở thành nước nhập khẩu ngô (nhập 1,6 triệu tấn năm 2010). Mặc dù năng suất ngô năm 2012 đã đạt 42,9 tạ/ha, nhưng so với năng suất trung bình của thế giới, năng suất ngô của Việt Nam còn rất thấp, nguyên nhân chính là do diện tích ngô ở Việt Nam trồng trên đất dốc và nhỏ lẻ, trong đó có hơn 60% diện tích trồng trên vùng núi cao.
Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Hà giang Hà giang là tỉnh miền núi biên giới cực Bắc của Việt Nam,với diện tích tự nhiên là 7.945,7km2, dân số 74 vạn người , gồm 22 dân tộc, trong đó: Dân tộc Mông chiếm 31,94%, dân tộc Tày chiếm 23,28%, dân tộc Dao chiếm 15,14%, dân tộc Kinh chiếm 13,24%, còn lại là các dân tộc khác. Hà giang có tổng diện tích đất nông nghiệp là 148. Tập quán sản xuất chủ yếu trồng ngô trên đất dốc và nương hốc đá, năng xuất đạt thấp. Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo còn cao (UBND tỉnh Hà giang, 2011)[17].
Để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển chăn nuôi, cây ngô được xác định là một trong những cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh.5: Tình hình sản xuất ngô ở Hà giang 2001 – 2010 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2001 43,2 18,3 790,56 2002 43,8 19,5 854,10 2003 45,1 19,5 879,45 2004 43,7 20,5 895,85 2005 44,0 21,0 924,00 2006 43,2 20,9 902,88 2007 43,8 22,8 998,64 2008 46,1 24,3 1.685,25 Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà giang, 2012[3] n 9 Qua bảng 1.5 cho thấy: Diện tích trồng ngô của tỉnh Hà Giang liên tục tăng. Năm 2001 cả tỉnh trồng được 43,2 nghìn ha, năm 2005 là 44 nghìn ha, đến năm 2012 đạt 52,5 nghìn ha, tăng 9,3 nghìn ha so với năm 2001. Năng suất ngô của tỉnh cũng tăng nhanh theo thời gian, năm 2001 năng suất ngô chỉ đạt 18,3 tạ/ha, đến năm 2005 là 21 tạ/ha và năm 2012 đạt 32,1 tạ/ha, tăng 11,1 tạ/ha so với năm 2005 và 13,8 tạ/ha so với năm 2001. Điều này chứng tỏ trong những năm qua, đảng bộ và chính quyền tỉnh Hà giang đặc biệt chú trọng quan tâm đầu tư phát triển áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật giống mới vào sản xuất.
Tăng diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1 vụ, gieo trồng ngô trên đất đồi, đất bãi ở vụ hè thu. Sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất sẵn có của tỉnh đặc biệt là những huyện vùng thấp. Cùng với sự phát triển chung của nền nông nghiệp Việt nam, sự nỗ lực của đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong toàn tỉnh, sự tham gia tích cực của đội ngũ các nhà khoa học kỹ thuật, tỉnh Hà giang đã mạnh dạn thay đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản suất, đặc biệt là thay thế các giống ngô địa phương có thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp, bằng các giống ngô lai năng suất cao như: LVN10, LVN11, LVN12… và một số giống ngô nhập nội như: Bioseed, 9607, DK999, NK4300. Nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và giống lai mới được nông dân ứng dụng vào sản xuất, nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở Hà giang đã không ngừng tăng nhanh trong những năm gần đây.
Tuy nhiên năng suất ngô của tỉnh Hà giang vẫn thấp hơn nhiều so với năng suất ngô của cả nước, năng suất ngô hiện tại của tỉnh chỉ bằng 68% năng suất ngô của cả nước.6: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô các huyện trong tỉnh từ năm 2010 - 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng TT Các huyện (1. Hoàng Su Phì 3.757,3 27,6 29,1 30,7 20662,6 22009,2 23834,2 Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà giang, 2012[3] 1. Tình hình sản xuất ngô ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển cây lương thực nói chung của huyện, cây ngô cũng rất được quan tâm phát triển sản xuất và đã thu được nhiều kết quả nhất định. Nhờ có các thành tựu khoa học kỹ thuật mới được nông dân ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất ngô cho nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên địa bàn toàn huyện cũng đã tăng nhanh.
Diện tích ngô huyện Mèo Vạc lớn nhất trong toàn tỉnh.7: Tình hình sản xuất ngô ở huyện Mèo Vạc giai đoạn 2007 – 2012 Diện tích Năng suất Năm Sản lượng (Tấn) trồng (ha) (tạ/ha) 2007 7050,0 21,4 15057,6 2008 7147,7 23,8 17027,6 2009 7247,7 25,0 18127,1 2010 7489,2 27,6 20662,6 2011 7556,0 29,1 22009,2 2012 7757,3 30,7 23834,2 Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà giang, 2012[3] Qua số liệu bảng 1.7 cho thấy, năm 2007 tổng diện tích trồng ngô của Mèo Vạc là 7.050,0 ha, đến năm 2012 đạt 7.757,3 ha; năng suất tăng dần qua các năm năm 2007 đạt 21,4 tạ/ha, đến năm 2012 năng suất tăng lên 30,7 tạ/ha. Điều này chứng tỏ trong những năm gần đây ở tỉnh Hà Giang nói chung, huyện Mèo Vạc nói riêng cây ngô đã được Đảng bộ và chính quyền huyện đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển. Đạt được những thành tựu như vậy đó chính là nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ngô như: Sử dụng một số tập đoàn các giống mới, áp dụng kỹ thuật canh tác tốt.