MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong số những loại rau xanh được trồng phổ biến hiện nay, cải chíp là loại rau rất gần gũi với các món ăn của người Việt Nam. Rau giòn, vị ngon, ngọt là thực phẩm dưỡng sinh, ăn vào có thể lợi trường vị, thanh nhiệt, lợi tiểu tiện và ngừa bệnh ngoài da. Cải chíp chứa nhiều thành phần dinh dưỡng như: vitamin A, B, C.
Lượng vitamin C của rau cải chíp đứng vào bậc nhất trong các loại rau… Ngoài ra, rau cải chíp còn có tác dụng chữa bệnh như: phòng ngừa bệnh ung thư, giúp tiêu hóa tốt, tốt cho mắt, tăng cường hệ thống miễn dịch…Với những ưu điểm đó, rau cải chíp ngày càng được trồng và tiêu thụ rộng rãi trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sản xuất rau là một bộ phận không thể thiếu của ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung. Nhu cầu rau xanh trong bữa ăn hàng ngày ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng khi yêu cầu về lương thực và các thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo. Đó là tiềm năng mang lại giá trị hiệu quả kinh tế cao phục vụ đời sống của nhân dân.
Qua đó chúng ta thấy được vị trí và tầm quan trọng của rau xanh, có vai trò đóng góp to lớn đối với đời sống con người như nào bởi chúng cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết mà không loại thực phẩm nào thay thế được. Rau xanh còn là nhu cầu không thể thiếu được trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người trên trái đất. Đối với cây rau, nguồn dinh dưỡng cung cấp từ đất không đáng kể so với yêu cầu của rau nên phải bổ sung phần lớn qua phân bón. Việc sử dụng nhiều phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật làm mất cân đối ở trong đất khiến đất trồng ngày càng chua, chứa nhiều chất độc… làm chất lượng rau cải chíp giảm sút và ảnh hưởng đến vệ sinh an toàn thực phẩm cho người sử dụng.
Nếu bị ảnh hưởng trong thời gian dài có thể khiến hệ sinh vật đất bị biến đổi, đất bị Luan van 2 chai, cằn, suy thoái. Nhằm cải thiện tình trạng trên người ta đã sử dụng phân hữu cơ để bón cho cây trồng. Nó có tác dụng cải tạo tính chất đất, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây. Từ đó làm tăng năng suất và chất lượng cây trồng một cách ổn định, bền vững, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường.
Đây cũng là nội dung mục tiêu của nền nông nghiệp hữu cơ bền vững. Xuất phát từ các vấn đề trên để đáp ứng yêu cầu của thực tế sản xuất để góp phần vào việc tìm hiểu nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón nói chung và phân hữu cơ nói riêng chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu liều lượng chế phẩm sinh học Emic xử lý phân hữu cơ đến sinh trưởng cây cải chíp tại Thái Nguyên” 1. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Xác định được liều lượng chế phẩm sinh học Emic xử lý phân hữu cơ thích hợp cho rau cải chíp sinh trưởng tốt và đạt hiệu quả cao.
Yêu cầu của đề tài Đánh giá được ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến động thái tăng trưởng chiều cao, đường kính tán, số lá trên cây rau cải chíp. Đánh giá được ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cây rau cải chíp Đánh giá được ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến tình hình sâu, bệnh hại trên cây rau cải chíp. Đánh giá được ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến hiệu quả kinh tế trên cây rau cải chíp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học của đề tài Là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân hữu cơ cho cây rau cải chíp vào sản xuất nông nghiệp. Luan van 3 Kết quả của đề tài góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật bón phân, bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về cây rau cải chíp. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Ý nghĩa trong sản xuất: Việc thực hiện đề tài là cơ sở để xác định mức chế phẩm sinh học Emic xử lý phân hữu cơ thích hợp cho rau cải chíp sinh trưởng tốt, đạt năng suất cao và đảm bảo chất lượng. Thay đổi một phần tập quán canh tác của nông dân tại địa phương.
Tạo điều kiện phát triển hơn về cây rau cải chíp nói riêng và cây rau nói chung tại Tỉnh Thái Nguyên. Từ đó mở rộng sản xuất sang các tỉnh lân cận. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở lý luận Sau cuộc cách mạng xanh, phân bón hóa học đã làm năng suất cây trồng tăng lên một cách nhanh chóng. Ngoài lợi ích mà nó mạng lại thì nó cũng đi kèm với những hệ lụy ảnh hưởng tới hệ thống sinh thái nông nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí. Bón quá nhiều phân hóa học không những khiến đất, nước, không khí bị ô nhiễm, năng suất chất lượng cây trồng bị giảm sút mà đồng thời còn ảnh hưởng tới sức khỏe con người và động vật. Trước tình hình đó, con người đã nhận thức được và đã tìm ra một phương pháp mới canh tác có hiệu quả hơn thay thế phân bón hóa học, đó là phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh.
Theo Nguyễn Như Hà(2006)[17], phân hữu cơ vi sinh là loại phân bón bao gồm nhiều chủng vi sinh vật hữu ích như: vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, phân giải xelluloza, và các chất khó tan, vi sinh vật kích thích quá trình quang hợp, vi sinh vật kháng bệnh. Kết hợp với các sản phẩm hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên như: than bùn, bùn thải từ các ao hồ, rác thải trong sinh hoạt, các sản phẩm phụ nông nghiệp. qua quá trình phân giải tạo mùn và cung cấp các nguyên tố cần thiết cho cây trồng, đồng thời có tác dụng cải thiện độ phì cho đất, bảo vệ môi trường. Phân hữu cơ vi sinh góp phần cải thiện môi trường sống của hệ vi sinh vật trong đất, giúp bổ sung thêm nguồn vi sinh vật có lợi cho cây trồng như các nấm đối kháng giúp phòng trừ bệnh cho cây trồng, các vi sinh vật làm tăng khả năng trao đổi chất, tăng sức đề kháng và chống chịu bệnh hại, các vi sinh phân giải giúp phân giải những chất khó hấp thu thành chất cây trồng dễ hấp thu.
Việc sử dụng loại phân bón này có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm tác hại của hóa chất lên nông sản do lạm dụng hóa chất như phân bón hóa học, thuốc trừ Luan van 5 sâu, tăng cường bảo vệ môi trường, hướng tới sản xuất nông nghiệp hữu cơ bền vững. Cơ sở thực tiễn Sản xuất rau nói chung và rau cải chíp nói riêng ở Thái Nguyên cũng như các vùng sản xuất rau khác trong cả nước, đều thiếu phân bón hữu cơ trầm trọng. Trong canh tác rau truyền thống, phân chuồng là giải pháp chủ yếu của phân bón cho rau, tuy nhiên hiện nay lượng phân chuồng trong chăn nuôi hiện có trong các nông hộ không thể đáp ứng nổi cho sự mở rộng diện tích trồng và thâm canh rau nhằm tăng tổng sản lượng cung cấp cho nhu cầu của thị trường ngày càng lớn. Quá trình thâm canh rau, với sự có mặt tràn lan, mất cân đối của các chất hoá học như phân hoá học, phân chuồng tươi, thuốc bảo vệ thực vật đã làm tăng lượng Nitrat và các chất độc hại dư thừa trong rau, tạo ra sự mất vệ sinh an toàn thực phẩm, gây hại cho sức khoẻ người sử dụng.
Về lâu dài, đất ngày càng bị chai cứng hơn do dùng nhiều phân hoá học, tính đệm của đất giảm nhiều do thiếu mùn, sự ô nhiễm nặng về môi trường sản xuất đã dẫn đến hệ sinh vật đất và thiên địch có lợi cho cây trồng bị tiêu diệt. Nguồn nước ngầm đang dần dần bị ô nhiễm, làm tăng nguy cơ thiếu tài nguyên nước sạch xung quanh đô thị. Vì vậy, việc sử dụng phân hữu cơ bón cho rau là biện pháp có hiệu quả để bổ sung chất hữu cơ cho đất, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, tăng cường hoạt động của các chủng vi sinh hữu ích, thúc đẩy nhanh quá trình phân giải xác hữu cơ từ phế phụ phẩm nông nghiệp cung cấp mùn cho đất, cải tạo và bồi dưỡng đất, tiến tới nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng rau.
Tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất rau trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích rau càng ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân (Mai Phương Anh và cs, 1996)[1]. Năm 1961 - 1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060 tấn; năm 1996 tổng lượng rau đã lên đến 565.523 tấn đến nay đạt gần 300 triệu tấn. Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng.
Trên thế giới, những nước có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đến năm 1996 sản lượng tăng đạt 13.555 nghìn tấn(Tạ T. Năm 2016 sản xuất rau quả tươi của EU đạt mức ấn tượng với khảng hơn 110 triệu tấn rau tươi. Các nước sản xuất chiếm ưu thế là Ý, Tây Ban Nha và Pháp. Các nước này sản xuất gần một nửa các loại rau tươi.
Đối với sản xuất các loại rau tươi, Hà Lan đóng vai trò quan trọng khi chủ yếu sản xuất cà chua, dưa chuột và ớt ngọt trong nhà kính. Trong những năm qua, sản lượng trái cây khá ổn định, trong khi tình hình sản xuất rau tươi có xu hướng giảm trong thập kỷ qua. Một trong những nguyên nhân chính là nguồn cung rau cạnh tranh từ các nước như Ma Rốc và Ai Cập… Bảng 2. Diện tích, năng suất, sản lượng rau trên thế giới giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2014 19.596,674 Nguồn FAOSTAT, 2020 [30] Luan van 7 Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần khoảng 250-300g/ngày/người tức 90- 110kg/người/năm.