Chương 1 đề cập đến sự phát triển của khổ qua nói riêng và của ngành rau quả Việt nam nói chung chưa tương xưng với tiềm năng vốn có của nó và đề ra mục tiêu của để tài là tìm hiểu các nhân tế ảnh hưởng đến người dân trong việc ra quyết định áp dụng trồng giếng khổ qua cải thiện. Chương 2 giới thiệu các yếu tố có liên quan đến sự chấp nhận giống cải thiện trong các tài liệu đã tham khảo và tổng quan về địa bàn ghiên cứu. Chương 3 đưa ra những khái niệm về giống cải thiện, giếng OP, giống khổ qua cải thiện và phương pháp nghiên cứu về sự chấp nhận để xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến sự ra quyết định trồng giống khổ qua cải thiện của người nông đân. Chương 4 nêu lên các kết quả đã điều tra được như cơ cấu giống khổ qua mà người dân đang trồng và các nhân tô ảnh hưởng đến việc ra quyết định của người nông dân.
Chương 5 rút ra những kết luận xung quanh vấn đề nghiên cứu và từ đó dé xuất những giải pháp thúc đẩy người dân trồng giống khổ qua cải thiện trên địa bàn nghiên cứu. CHƯƠNG2 TONG QUAN 2. Tổng quan về thị trường rau quả Việt Nam 2. Tình hình sản xuất Sản xuất rau quả của Việt Nam trong những năm qua đã có những bước tiễn đáng kể về quy mô cũng như cơ cấu sản phẩm, nhiều loại rau quả đặc sản, có chất lượng cao được quy hoạch thành những vùng chuyên canh.
Diện tích trồng rau quả của Việt Nam đã tăng từ 771,4 nghìn ha năm 1993 nên đã tăng lên đến 1440,1 nghìn ha năm 2002, trong đó diện tích cây ăn quả tăng 2,3 lần, bình quân tăng 10,1%/năm và diện tích rau các loại tăng 1,6 lần, bình quân tăng 5,6%/năm. Khu vực sản xuất rau chủ yếu là vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 25,26% diện tích và 30,78% sản lượng rau của cả nước, tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Cửu Long với 23,28% diện tích và 25,46% sản lượng (2002), ngoài ra còn có Đà Lạt — vùng chuyên canh rau có chất lượng và hiệu quả cao. Việc nâng cao năng lực chế biến rau, quả đã được chú ý đầu tư. Trước năm 1999, cả nước chi có 12 nhà máy và 48 cơ sở chế biến rau, quả có thiết bị, công nghệ lạc hậu, sản phẩm làm ra không phù hợp với thị trường, công suất chỉ khoảng 150 nghìn tắn/năm.
Sau 4 năm triển khai đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh giai đoạn 1999-2010, đã có thêm 12 nhà máy chế biến, nâng tổng công suất cả nước lên gần 290 nghìn tấn với các thiết bị tiên tiến của châu Âu. Sản phẩm chế biến của nước ta đã có mặt tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những thị trường khó tính như Mỹ, EU. Tiêu thụ nội địa Rau quả Việt Nam chủ yếu được sản xuất để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa. Theo số liệu Điều tra mức sống đân cư của Tổng cục Thống kê thì mức tiêu thụ bình quân rau quả tươi của mỗi người dan Việt Nam là 71kg/người/năm.
Tuy nhiên, con số này chưa bao gồm rau quả được tiêu thụ gián tiếp trong các sản phẩm chế biến như nước ép trái cây, mứt hay rau quả tươi được tiêu thụ bên ngoài gia đình. Về mặt giá trị, tiêu thụ rau quả chiếm khoảng 4% tổng chi tiêu bình quân của các hộ gia đình.2 Tổng quan về các tài liệu nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện 2. Chiến lược bảo tồn nội vi tài nguyên cây trồng vì sự phát triển bền vững Tại buổi hội thảo quốc gia về đánh giá các hoạt động, kết quả của các dự án bảo tồn nội vi cây trồng, ông Lê Văn Bam cho biết: Việt nam là một trong số mười quốc gia da dang và giàu có nhất thế giới về tài nguyên di truyền thực vật. Chính nhờ sự đa dạng này mà nông dân tại các vùng khó khăn đã duy trì được cuộc sống của họ trong các điều kiện sinh thái khó khăn.Tại đây nông dan đã chọn lọc và duy trì các giống địa phương cổ truyền để thỏa mãn những nhu cầu riêng của họ như sự ưa chuộng về chất lượng phục vụ các hoạt động văn hóa và tôn giáo cũng như bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây nguồn tài nguyên này đang bị cạn kiệt với tốc độ ngày càng gia tăng do sự hủy hoại môi trường sống và sự phụ thuộc của người nông dân vào một số rất ít các giống cải tiến. Từ nhận thức trên Chính Phủ Việt nam đã thành lập và thúc đây mạng lưới quốc gia về bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật. Mạng lưới này chịu sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Bộ cho rằng chính các nông dân ở những vùng khó khăn đóng vai trò chủ đạo trong công tác báo tồn nội vi đa đạng sinh học nông nghiệp (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và ctv, 2004).
Từ những nhận xét trên có thể kết luận rằng nông dan tại các vùng có điều kiện khó khăn thì ít sử dụng giống cải tiến so với giống địa phương hay nói cách khác những yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận giống mới của nông dân đó là điều kiện về cơ sở hạ tầng và điều kiện kinh tế hộ. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận giống cải thiện của người nông dân của các nhà nghiên cứu khác Vào những năm 1960-1970 cuộc Cách mạng xanh đã mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển nông nghiệp Châu Á. Tiềm năng cho việc tăng sản lượng cây trồng là rất lớn với sự đóng góp của phân hóa học, thuốc trừ sâu, biện pháp thủy lợi, các giống cây trồng có năng suất và quá trình sử đụng đất hợp lý.đã giúp cho nhiều nước đông dân như Trung Quốc, An Độ.tự túc được lương thực và thoát nghèo đói chỉ trong khoảng thời gian 20 năm. Từ thực tế đó giếng mới đã trở thành một công cụ giúp cho nền nông nghiệp của các nước đang phát triển phát triển vượt bậc.
Các nhà khoa học tại các nước Nhật và một số nước Châu Phi như Nigeria, Kenya này đã tiến hành các nghiên cứu về sự chấp nhận giống mới của nông dân về lúa, lúa mì, đậu. và đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu như sau: e Những nông dân ở các vùng có điều kiện thuận lợi thì sử dụng các loại giống lúa mì mới (52%) cao hơn ở những nông dân ở các vùng kém thuận lợi (22%) (Gamba, P và ctv. e© Nhiều nông dân ở Ogata-Nhật Ban bắt đầu trồng lúa theo cách ít sử dụng phân hóa học không phải vì họ chú trọng đến vẫn đề đạo đức mà vì sự ưa thích của thị trường (J. Saka va ctv, 2005).
e Thời gian sinh trưởng nhanh là một trong những đặc điểm của giống đậu Kalima mà người dân ưa thích. Trồng Kalima vào mùa mưa thì nó có xu hướng thành thục sớm vào tháng 2 hoặc tháng 3, đây là khoảng thời gian mà nhiều nông dân phải đối mặt với vấn đề thiếu lương thực và tiền mặt. Chính vì thế Kalima là một loại giống rất tốt trong việc làm địu đi những khó khăn này. Một điều thuận lợi khác nữa là chính sự thành thục nhanh của nó cho phép nông dân có nhiều hơn một vụ trồng đậu trong mỗi mùa trồng (Masangano C.
Ngoài ra lý do chính mà những nông dân ở cá 2 quy mô diện tích đất nông nghiệp lớn và nhỏ đều chap nhận trồng giống lúa mì mới là đo giống mới có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt và có thời gian sinh trưởng ngắn. Còn những điều làm trở ngại người nông dân chấp nhận giống lúa mì mới là sự thiếu hụt giống và thiêu kiến thức (Gamba và ctv, 2003). = = = = ee eae SS © Se © Đa số những nông dân có học (93.7%) là những người chấp nhận giống mới trong khi những nông dân mù chữ (53.7%) là những người không chấp nhận giống mới (J. Saka và ctv, 2005).
e Tuổi trung bình của các nông dan trồng lúa là 53 tuổi trong đó độ tuổi từ 21 đến 40 tuổi chiếm 20. Những người chấp nhận giống gạo mới thì trẻ hon (42.8 tuổi) những người không chấp nhận (53. Saka va ctv, 2005). © Người dân ở vùng Thiwi Lifidzi-Nigeria trồng nhiều loại đậu hơn người dan ở các vùng khác là đo họ có kinh nghiệm về các vẫn đề thường xảy ra đối với trồng đậu (Masangano C.
e Các kết quả từ mô hình hồi quy đã chỉ ra rằng quy mô điện tích đất canh tác lúa, năng suất của giống lúa mới và sự thường xuyên tiếp xúc với khuyến nông thì có ảnh hưởng tích cực đến sự ra quyết định chấp nhận giống mới của người dân (J. Saka và ctv, 2005). Tóm lai các yếu 16 như điều kiện vùng thuận lợi, vùng khó khăn, sự ưa thích của thị trường, yếu tố mùa vụ và năng suất của giống, trình độ học vấn, tuổi tác, kinh nghiệm trồng và sự tham gia tập huấn của người nông dân là các yếu tố có ảnh hưởng đến sự chấp nhận giống mới của người nông dân. Tống quan về các địa bàn nghiên cứu a) Xã Bình Phú Xã Bình Phú cách thành phố Hồ Chí Minh 97 km đi về hướng Tây Nam, có trục đường quốc lộ 1 đi ngang.
Do vậy tạo thuận tiện cho việc luân chuyển hàng hóa, giao lưu buôn bán giữa người sản xuất trên địa bàn với thị trường rộng lớn và đa dạng này. Địa hình của xã chia làm 2 vùng, vùng đất cao (gọi là phía Nam Lộ 1) gồm có các ấp như ấp Bình Phong, Bình Trị, Bình Tịnh và vùng đất thấp thì gồm có các ấp Bình Thạnh, Bình Hung, Bình Tinh, Binh Sơn, Bình Thới, Bình Đức. Các ấp có số lượng nông đân trồng các lọai rau ăn quả nhiều nhất bao gồm có ấp Bình Phong, Bình Trị và Bình Thạnh. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1,894.94 ba, trong đó tổng điện tích đất nông nghiệp là 1,616.52 ha và tổng diện tích dat trồng rau ăn quả là 513 ha.
Nhóm đất chính của xã là đất phù sa vì vay tao điều kiện tốt cho việc trồng các lọai rau ăn quả như khổ qua, dưa leo, bau, bi, dua hấu.Trong 4 vụ Đông Xuân, Hè Thu, Vụ 3, Vụ 4 năm 7 2006 thì diện tích trồng cây dưa hấu là 427 ha, diện tích trồng dưa leo là 27 ha và điện tích trồng khé qua là 6. Bên cạnh trồng màu bà con tại xã còn trồng các loại cây ăn quả khác. Nông dân ở vùng Nam Lộ I và các vùng có đê bao ở Bắc Lộ trồng được khoảng 8.