Đặt vấn đề Ở Việt Nam cây chuối đã được trồng phổ biến từ lâu đời rải rác trong các vườn gia đình khắp cả nước từ đồng bằng, trung du, đến miền núi và có vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân. Quả chuối được sử dụng làm lương thực, ăn tươi, làm bánh, kẹo, nước giải khát, bột dinh dưỡng cho trẻ em…Ngoài sản phẩm quả các bộ phận khác của cây chuối đều có thể sử dụng vào mục đích khác như thân giả dùng để chăn nuôi, cây non và hoa dùng làm rau, các phần khác có thể làm phân bón…hoặc phơi khô làm chất đốt. Chuối là loại trái cây nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia và vùng miền trên thế giới, đồng thời cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong thương mại rau quả của toàn cầu. Nó là một trong năm loại cây ăn quả phổ biến nhất thế giới, đồng thời chuối còn là một trong số những mặt hàng chủ lực của nhiều nước đang phát triển.
Song song với việc phát triển cây trồng theo hướng hàng hóa, đem lại hiệu quả kinh tế cao, việc bảo tồn nguồn gen là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Những năm trở lại đây, công tác bảo tồn nguồn gen trên địa bàn đã được UBND tỉnh Bắc Kạn quan tâm chỉ đạo mà trọng tâm là lưu giữ, phát triển những giống cây trồng đặc sản có thương hiệu, trong đó có cây chuối tây bản địa. Nhằm cụ thể hóa Chương trình hành động số 11- CTR/TU năm 2013 của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng Đề án khung nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh thực hiện giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020 (Vũ Tuấn Sơn 2013) [9]. Để đảm bảo mục tiêu phát triển đi đôi với bảo tồn, góp phần triển khai hiệu quả chương trình hành động của tỉnh, việc nghiên cứu đặc điểm đặc trưng của giống chuối tây bản địa Bắc Kạn là hêt sức cần thiết.
Tại thị xã Bắc Kạn nhân dân có truyền thống trồng chuối từ lâu đời và cây chuối được trồng chủ yếu tại 2 xã là Xuất Hoá và Nông Thượng, từ chỗ chủ yếu lấy thân làm thức ăn cho chăn nuôi, hiện nay việc trồng cây chuối đã đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho một số hộ dân. Tuy nhiên, việc phát n 2 triển cây chuối còn mang tính tự phát, chưa chú trọng trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc thâm canh loại cây ăn quả này. Do vậy, để góp phần vào việc khai thác các tiềm năng sẵn có của địa phương, tạo ra nguồn hàng hoá phục vụ nhu cầu trong tỉnh và cả nước, góp phần xoá đói giảm nghèo, từng bước ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn, đồng thời mở rộng vùng sản xuất của giống chuối tây bản địa Bắc Kạn cho các tỉnh miền núi phía Bắc. Do vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Xây dựng bản mô tả đặc trưng hình thái giống chuối tây Bắc Kạn và nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây chuối tây Bắc Kạn nuôi cấy mô tại Thái Nguyên”.
Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen giống chuối tây bản địa cho tỉnh Bắc Kạn và cho khu vực có cùng điều kiện sinh thái. - Lựa chọn được công thức phân bón phù hợp. Yêu cầu - Xây dựng bản mô tả đặc trưng giống chuối tây bản địa Bắc Kạn.
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống chuối tây nuôi cấy mô ở xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học áp dụng kiến thức đó vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn. - Tạo điều kiện cho sinh viên có thêm kinh nghiệm sản xuất trồng trọt một cách có kết quả.
- Giúp cho sinh viên nắm được quy trình trồng chuối tây, cụ thể là cây chuối tây nuôi cấy mô. Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả của đề tài giúp bổ sung tài liệu cho sản xuất và nghiên cứu. - Kết quả của đề tài là cơ sở để mở rộng, phổ triển ra sản xuất. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở khoa học của đề tài Trồng cây ăn quả nói chung muốn có năng xuất cao, phẩm chất quả tốt, kéo dài chu kỳ kinh tế của cây cần áp dụng đúng kỹ thuật của từng loại cây. Không những thế, mỗi loại giống lại có những yêu cầu, đòi hỏi riêng, chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu đó thì giống cây mới phát huy đầy đủ những đặc tính tốt của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Trong chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa hiện nay thì chuối là cây có ưu điểm hơn cả vì trồng chuối nhanh cho thu hoạch nên quay vòng vốn nhanh, dễ chuyển đổi theo yêu cầu sản phẩm của thị trường hàng hoá.
Chuối là sản phẩm đặc trưng chỉ vùng nhiệt đới mới có nên có thị trường tiêu thụ rộng lớn. Quả chuối có thể ăn tươi hay chế biến thành nhiều loại sản phẩm như chuối khô, mứt chuối. là sản phẩm rất dễ tiêu thụ hiện nay. Cây chuối cũng như tất cả các loại cây ăn quả khác, có yêu cầu ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác riêng.
Nghiên cứu về đặc trưng hình thái và yêu cầu ngoại cảnh đối với cây chuối có ý nghĩa vô cùng quan trọng để từ đó có thể đưa ra các biện pháp kỹ thuật thâm canh, mở rộng vùng sản xuất của giống chuối bản địa Bắc Kạn cho khu vực miền núi phía Bắc nhằm mang lại hiệu quả là cao nhất. Cơ sở thực tiễn của đề tài • Kết quả nghiên cứu góp phần tích cực vào công tác bảo tồn nguồn gen của giống chuối thí nghiệm; • Kết quả nghiên cứu giúp xây dựng bản mô tả đặc trưng của giống chuối tây Bắc Kạn và xác định được biện pháp kỹ thuật phù hợp để đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất; • Đề tài được triển khai sẽ góp phần giải quyết các khó khăn đồng thời nâng cao sản lượng chuối và thu nhập cho người dân. Nguồn gốc, sự phân bố và hệ thống phân loại chuối 2. Nguồn gốc Khoảng 8000 năm trước Công Nguyên, nghề nông đã có sớm nhất ở châu Đại Dương.
Ở vùng này đă thấy xuất hiện chuối Austramusa và loài này đã được coi là một trong những cây nông nghiệp đầu tiên. Người ta tìm thấy chúng đầu tiên ở New guinea (Simmonds 1960) và được di chuyển đến Thái Bình Dương từ thời tiền sử (Krich 1978). Ở châu Á, chuối được xem là bắt nguồn từ Malaysia cách đây khoảng 4000 năm trước Công Nguyên (Yen 1990). Cây phát sinh chủng loài của họ Chuối, bộ Gừng.
Theo phân loại của Võ Văn Chi (1978) các loài chuối thuộc ngành Ngọc Lan (Mangolophya), lớp Hành (Liliopsida), phân lớp Hành (Lilidae), bộ Gừng (Zingibereles), họ Chuối (Musacea). Họ chuối gồm 2 chi với 70 loài, trong đó: Chi Ensete gồm 10 loài, phân bố chủ yếu vùng Châu Phi; chi Musa gồm 60 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới [2]. Cây chuối có nguồn gốc từ Đông Nam Á, sau đó được di thực sang Châu Úc rồi tới các nước Trung và Nam Mỹ. Một số tác giả còn cho rằng từ Đông Nam Á cây chuối được chuyển qua Madagasca vào lục địa Châu Phi, sau đó tới các đảo Canari và Santodomigo (Champion J.
Phân loại và phân bố Theo Simmond N. W, (1962) số lượng giống chuối hiện trồng trên thế giới là 100 - 300 giống và tất cả các giống chuối ăn được đều thuộc nhóm Eumusa, được hình thành do sự kết hợp di truyền giữa 2 loài chuối dại là M.balbisiana (B), trong đó, những kiểu gen đều có gen A và gen B, bên cạnh một số ít ngoại lệ. Đại bộ phận các giống chuối hiện nay là tam bội thể (AAA, AAB, ABB), nhị bội thể (AA, AB, BB),còn tứ bội thể thì rất hiếm (chỉ một số giống ở Thái Lan) [15]. Theo hệ thống phân loại của Simmond N.
W, dựa trên cơ sở số lượng nhiễm sắc thể và cho điểm các đặc điểm hình thái của 2 loài M. balbisiana (B) theo 15 đặc điểm thực vật học. Theo hệ thống phân loại này các giống chuối hiện nay được phân nhóm theo kiểu gen như sau (Nguyễn Thị Việt Nga, 1996) [7]. n 5 Nhóm 1: Kiểu gen AA Trong nhóm này có các giống: chuối Ngự, chuối Cau, chuối Pisang Mas (Malaixia), Ladies Finger (Hawai), các giống này thường có quả nhỏ, vỏ mỏng, chất lượng cao, năng suất thấp, kháng bệnh Panama nhưng mẫn cảm với bệnh Sigatoka.
Nhóm 2: Kiểu gen AAA Trong nhóm này có các giống: chuối Tiêu, Pingsa Embun (Malaixia), Chinese (Hawai)… Các giống thuộc nhóm này có năng suất, chất lượng tốt được trồng phổ biến ở nhiều nước. Ngoài ra, dễ tiêu thụ và xuất khẩu, thích hợp với trồng ở vùng vĩ tuyến cao, mùa đông lạnh, có khả năng kháng bệnh Panama nhưng mẫn cảm với bệnh Sigatoka. Nhóm 3: Kiểu gen ABB Nhóm này bao gồm rất nhiều chủng loại đa số là chuối ưa nóng như chuối Tây, chuối Sứ, chuối Sừng, chuối Bom… Những giống này có chứa nhiều tinh bột. Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ trồng để ăn tươi đôi khi nấu chín, chiên.
Nhóm này có đặc điểm là cây cao, sinh trưởng khoẻ, không kén đất có thể trồng không tưới, không bón phân trên những đồi dốc mới khai phá (đặc biệt là chuối Bom). Ngoài ra, thân non, hoa chuối ít có vị chát, có thể dùng ăn sống như chuối Tây. Nhóm 4: Kiểu gen BB Đại diện nhóm này là chuối Hột, cây sinh trưởng khoẻ, chịu bóng, chịu hạn khá, chống chịu sâu bệnh rất tốt, quả có chứa nhiều hạt, nhiều tinh bột, thân dùng làm rau sống có chất lượng cao. Theo hệ thống phân loại của Simmond N., chi Eumusa gồm 9 - 10 loài, số lượng nhiễm sắc thể cơ sở là 11, số lượng giống lên tới 131 và phân bố như sau: n 6 Musaceae Marantaceae Zingiberaceae Ensete Musa Ingentinus Australimusa Callimusa Eumusa Rhodochiamys Bảng 2.