ĐẶT VẤN ĐỀ Cây chè: (Camellia sinensis) được trồng ở nước ta từ lâu đời chủ yếu ở các tỉnh Trung du và miền núi, là loài cây trồng chiếm vị trí quan trọng cả mặt kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Sản phẩm chè là đồ uống thông dụng và có nhiều tác dụng tốt cho sức khoẻ. Chè có khả năng làm tăng sức bảo vệ của thành mạch máu. nước chè là thứ nước uống giải khát phổ biến của 2/3 dân số toàn thế giới.
Uống chè còn có tác dụng chống lạnh, khắc phục được sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm cho tinh thần minh mẫn, sảng khoái, chữa được một số bệnh như kiết lị, viêm gan, thấp khớp, có tác dụng lợi tiểu, kích thích tiêu hoá mỡ, chống béo phì…trong chè còn có nhiều vitamin C, B2, PP, K, E… và các axít amin rất cần thiết cho cơ thể. Cây chè còn là cây bản địa truyền thống, trồng chè đúng quy trình kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật phủ xanh đất dốc đồi núi trọc, có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam. Ngoài ra cây chè còn giải quyết công ăn việc làm, thu nhập kinh tế ổn định cho người lao động, là mặt hàng nông sản xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước ( Đỗ Ngọc Quỹ – Nguyễn Kim Phong 1997) [26]. Sản xuất chè ở Việt Nam có nhiều lợi thế như: Đa dạng và phong phú về nguồn giống, đất đai, khí hậu phù hợp, có nhiều mô hình năng suất cao (trên 30 tấn/ha), nhiều vùng chè có chất lượng cao như xã La Bằng huyện Đại Từ; Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng).
Các giống chè mới có năng suất ổn định, chất lượng tốt có thể chế biến chè xanh có giá trị kinh tế cao. Đến nay, năng suất chè Việt Nam tương đương năng suất chè thế giới. Tuy vậy, sản xuất chè chưa phát huy hết tiềm năng của cây chè Việt Nam, giá bán bình quân của sản phẩm chè Việt Nam chỉ bằng 70% giá bán bình quân của chè thế giới, do sản phẩm chè Việt Nam chưa đa dạng hoá, mẫu mã sản n 2 phẩm chưa thu hút khách hàng và sức cạnh tranh thấp, đặc biệt nhà máy chế biến chưa gắn với vùng nguyên liệu. Do đó nguyên liệu chè cung cấp cho nhà máy chế biến chưa đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và sản phẩm chè Việt Nam chưa đạt tiêu chuẩn an toàn.
Tình hình trên đây, do nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân tác động trực tiếp đó là nguyên liệu chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng để chế biến và đa dạng sản phẩm chè, chậm áp dụng các quy trình kỹ thuật tiên tiến và đưa các thiết bị tiên tiến vào sản xuất đã làm cho nguyên liệu không đáp ứng yêu cầu chế biến sản phẩm có chất lượng và an toàn. Mặt khác trong sản xuất chè chưa chú ý đến nhu cầu của thị trường để lựa chọn giống, kỹ thuật trồng, thu hái và chế biến sản phẩm, chưa gắn việc xây dựng vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy không những sản phẩm chè sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường, giá bán thấp mà còn có hiện tượng cung cầu thất thường, không ổn định. Để khắc phục tình hình trên trước hết cần có những giống chè có chất lượng cao, có khả năng chế biến nhiều loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường, đồng thời xây dựng vùng nguyên liệu chè giống mới gắn liền với nhà máy và dây chuyền thiết bị chế biến phù hợp để tạo ra sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.
Những năm 90 của thế kỷ 20 diện tích chè Việt Nam chủ yếu trồng bằng các giống quần thể địa phương (Trung Du, Shan) do chưa được chọn lọc và trồng theo kỹ thuật trồng hạt nên năng suất thấp (trung bình 3.0 - 3,5tấn/ha) độ thuần thấp vì vậy chất lượng nguyên liệu không đáp ứng yêu cầu chế biến các sản phẩm chất lượng và đa dạng hoá sản phẩm. Từ năm 1995 - 2005 được sự quan tâm của Nhà nước công tác nghiên cứu khoa học chè đã đạt được những kết quả nhất định, hàng loạt giống chè mới được nhập nội, lai tạo và chọn lọc đáp ứng yêu cầu nâng cao năng suất n 3 và đặc biệt là chất lượng đã phần nào đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường chè. Theo số liệu Niên gián thống kê năm 2010, diện tích chè Thái Nguyên đạt 17.661 ha, năng suất trung bình chung toàn tỉnh đạt 100,58 tạ/ha, sản lượng 171. Tỷ lệ tăng diện tích từ 2005 đến 2009 đạt 17,75%, cao hơn so với tỷ lệ tăng diện tích chè của cả nước; tỷ lệ tăng năng suất đạt 52,39%, cao hơn rất nhiều so tỷ lệ tăng năng suất của vùng Trung du (29,50%) và cả nước; tỷ lệ tăng sản lượng rất cao: 102,23%.
Tuy nhiên qua điều tra cho thấy cơ cấu giống chè hiện nay ở tỉnh Thái Nguyên giống chè Trung Du trồng hạt vẫn chiếm tỷ lệ lớn: 69,4% do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và chất lượng chè của tỉnh Thái Nguyên. Trong những năm gần đây có một số giống chè mới bằng nhiều con đường khác nhau đã được các hộ nông dân đưa vào trồng và sản xuất kinh doanh. Cho đến nay việc đánh giá đặc điểm sinh trưởng, năng suất, chất lượng của một số giống chè mới và phân bón qua lá trên chè trong điều kiện huyện Đại Từ chưa được nghiên cứu và đánh giá bài bản. Đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng một số giống chè nhập nội và biện pháp bón phân qua lá cho giống chè có triển vọng tại xã La Bằng huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên” sẽ đáp ứng yêu cầu thực tế đó.
MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1. Mục đích - Đánh giá về đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của 5 giống chè: Trung Du, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, Bát Tiên và Keo Am Tích, hiện đang trồng tại xã La Bằng, huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên. Các kết quả thu được sẽ góp phần đề xuất các giống chè có năng suất và chất lượng tốt cho huyện Đại Từ giai đoạn 2010 - 2015 và tầm nhìn 2020. n 4 - Đánh giá được ảnh hưởng của biện pháp bón phân qua lá đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế ở giống chè có triển vọng (giống Kim Tuyên).
Yêu cầu Đánh giá một số chỉ tiêu hình thái chủ yếu của 5 giống chè nghiên cứu. Đánh giá đặc điểm sinh trưởng các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất, chất lượng của các giống chè. Đánh giá ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sinh trưởng năng suất và chất lượng của giống chè có triển vọng. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Ý nghĩa khoa học Nghiên cứu đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, năng suất chất lượng của các giống chè. Từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu, xây dựng quy trình kỹ thuật các giống chè phù hợp với điều kiện sinh thái vùng. Ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở điều tra đánh giá tình hình tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sản xuất chè ở Thái Nguyên. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của một số giống chè mới trồng ở Đại Từ trên cơ sở đó xác định những giống chè thích hợp với điều kiện sinh thái.
Biện pháp bón phân qua lá cho giống chè triển vọng sẽ xác định loại phân thích hợp có thể làm tăng năng suất và chất lượng chè 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 5 giống chè: Keo Am Tích, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, Bát Tiên và giống Trung Du làm đối chứng. Bốn loại phân bón lá.
Phạm vi nghiên cứu Trên cơ sở kế thừa một số kết quả nghiên cứu đã đạt được của các tác giả trong và ngoài nước, đề tài nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng một số giống chè nhập nội và biện pháp bón phân qua lá cho giống chè có triển vọng trong điều kiện tự nhiên ở xã La Bằng huyện Đại Từ, n 5 PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Chè là cây công nghiệp dài ngày, trong điều kiện sản xuất kinh doanh chu kỳ kinh tế có thể 50 - 60 năm phụ thuộc vào giống, điều kiện đất đai, khí hậu và các biện pháp kỹ thuật. Năng suất chè phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống như: Khả năng phân cành, đặc điểm hình thái, khả năng ra búp, sinh hoá búp và thời gian sinh trưởng búp của giống.
Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979), [10], từ lúc bắt đầu hình thành phôi đến khi già chết (tự nhiên) đời sống tự nhiên của cây chè chia làm các thời kỳ: Thời kỳ phôi thai: Từ lúc cây ra hoa thụ phấn cho đến lúc quả chín, quá trình này mất thời gian 1 năm. Giai đoạn phôi của mầm dinh dưỡng là từ lúc mầm phôi phát dục đến hình thành một búp (cành) mới, nếu tách rời cây mẹ nó có khả năng mọc mầm để hình thành một cá thể mới. Thời kỳ cây con: Tính từ khi thụ tinh tạo phôi (với cây được tạo ra từ hạt) hoặc từ khi nảy chồi (với cây được tạo ra từ giâm hom), thời kỳ này thường kéo dài 1 năm, tương ứng với thời kỳ này trong sản xuất gọi là thời kỳ vườn ươm và trồng mới nương chè. Thời kỳ cây non: Là thời kỳ cây chè bắt đầu sinh trưởng, phát triển trên nương chè nhưng chưa cho thu hoạch, thời kỳ này kéo dài 3 năm (với nương chè trồng bằng cây con được tạo ra bằng giâm hom), kéo dài 4 năm (với nương chè trồng bằng cây con được tạo ra bằng hạt), thời kỳ này cây chè sinh trưởng mạnh, tạo khung tán, hoa quả ít, trong sản xuất gọi là thời kỳ kiến thiết cơ bản.
Đây là thời kỳ đầu tư xây dựng để cây chè phát triển khung tán to khỏe cho nhiều búp về sau. Thời kỳ cây lớn: Là thời kỳ cây chè bắt đầu cho thu hoạch đến khi cây chè bắt đầu suy giảm về sinh trưởng và năng suất, thời kỳ này kéo dài 30-35 năm tùy thuộc vào giống chè, điều kiện đất đai, khí hậu và điều kiện chăm n 6 sóc, trong sản xuất gọi là thời kỳ sản xuất kinh doanh.