Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Hiện nay dân số thế giới ngày càng gia tăng, trong khi đó diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp do xu thế đô thị hóa, biến đổi khí hậu ., vì vậy phát triển nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu đang là vấn đề quan trọng hàng đầu ở tất cả các quốc gia. Để giải quyết vấn đề này ngoài biện pháp phát triển kỹ thuật canh tác bền vững, đòi hỏi các nhà khoa học phải nhanh chóng tạo ra những giống mới có năng suất cao, ổn định đáp ứng được yêu cầu của một nền nông nghiệp hiện đại. Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng.
Các nhà khoa học ước tính khoảng 30 đến 50% mức tăng năng suất hạt của các cây lương thực trên thế giới là nhờ việc đưa vào sản xuất những giống tốt. Tuy nhiên một giống chỉ được coi là thực sự phát huy hiệu quả khi có tiềm năng năng suất cao và thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Vì vậy, xác định bộ giống thích hợp với mỗi vùng sinh thái là rất cần thiết. Do điều kiện sinh thái và trình độ canh tác của các vùng khác nhau nên giống mới cần được khảo nghiệm trước khi đưa ra sản xuất để đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng thích nghi, tính ổn định, độ đồng đều.
cũng như khả năng chống chịu với những điều kiện bất lợi khác trước khi mở rộng sản xuất. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Hiện nay trên thế giới có khoảng 140 nước trồng ngô với tổng diện tích 170,42 triệu ha, năng suất 51,9 tạ/ha và sản lượng đạt 883,5 triệu tấn (FAOSTAT, 2012)[55]. n 5 Theo thống kê của ISAAA, trên thế giới 2/3 diện tích trồng ngô tập trung ở các nước đang phát triển, tuy nhiên 2/3 sản lượng ngô trên thế giới lại tập trung ở các nước phát triển (ISAAA) [1].1: Tình hình sản xuất ngô trên thế giới năm 1961 - 2012 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 1961 105,48 1,94 205.00 2004 147,42 4,94 728,07 2005 147,76 4,84 715,81 2006 146,73 4,76 699,28 2007 157,87 4,97 784,81 2008 161,02 5,13 827,50 2009 158,8 5,16 819,70 2010 161,8 5,22 844,40 2011 170,42 5,19 883,50 2012 177,00 4,94 875,10 (Nguồn: FAOSTAT, 2013 [55]) Theo thống kê của FAO (2013)[55], sản xuất ngô trên thế giới tăng lên không ngừng cả về diện tích và năng suất.
Năm 1961, năng suất ngô trung bình thế giới mới chỉ đạt 1,94 tấn/ha, diện tích 105,48 triệu ha. Năm 2012, diện tích ngô là 177,0 triệu ha, năng suất 4,94 tấn/ha và sản lượng đạt 875,1 triệu tấn. So với năm 1961, năm 2012 diện tích trồng ngô trên thế giới tăng 1,68 lần, năng suất tăng 2,55 lần. Sản xuất ngô trên thế giới phát triển là nhờ ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác.
Trong công tác cải tạo giống cây trồng dựa trên n 6 cơ sở ưu thế lai, cây ngô lai được ghi nhận là một thành công kỳ diệu của nhân loại.2: Tình hình sản xuất ngô của một số châu lục và một số nước trên thế giới năm 2012 Châu lục, Diện tích Sản lượng Năng suất (tạ/ha) Nước (triệu ha) (triệu tấn) Châu Á 57,50 50,07 287,92 Châu Mỹ 67,55 62,62 422,96 Châu Âu 18,31 51,38 94,09 Châu Phi 33,54 20,71 69,45 Mỹ 35,36 77,44 273,83 Trung Quốc 34,97 59,56 208,26 Brazil 14,23 50,12 71,30 Hy Lạp 0,18 114,29 2,00 Pháp 1,72 90,85 15,61 Israel 0,03 255,56 0,85 (Nguồn FAOSTAT, 2013 [55]) Tuy nhiên, sản xuất ngô trên thế giới có sự khác biệt rất lớn về năng suất giữa các vùng, các châu lục. Sản xuất ngô tập trung chủ yếu ở châu Mỹ và châu Á, năm 2012, diện tích trồng ngô của 2 châu lục này chiếm 70,65% tổng diện tích trồng ngô toàn thế giới. Sản lượng ngô của châu Mỹ chiếm 48,33% tổng sản lượng ngô toàn thế giới và của châu Á là 32,90%. Châu Mỹ và châu Âu đạt năng suất ngô cao nhất (52,38-62,62 tạ/ha), trong khi đó ở châu Phi năng suất ngô chỉ đạt 20,71 tạ/ha, bằng 40,31% năng suất ngô của châu Âu và 33,07% năng suất của châu Mỹ.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch này là do sự khác biệt về khoa học kỹ thuật, điều kiện khí hậu và khả năng đầu tư thâm canh. Ở các n 7 nước phát triển 90-100% diện tích ngô được trồng bằng các giống ngô có ưu thế lai cao, trong khi đó các nước đang phát triển chủ yếu là trồng các giống thụ phấn tự do, diện tích trồng giống ngô lai chỉ chiếm 37% diện tích. Ngoài ra ở các nước đang phát triển do điều kiện kinh tế khó khăn, khả năng đầu tư thâm canh thấp nên không khai thác hết tiềm năng năng suất của giống. Mỹ là nước sản xuất ngô lớn nhất thế giới, chiếm hơn 40% tổng sản lượng ngô thế giới.
Việc sử dụng các giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930. Hiện nay 100% diện tích ngô của Mỹ là trồng các giống ngô lai trong đó hơn 90% là giống ngô lai đơn (Ngô Hữu Tình và cộng sự, 2009) [38], năm 2012, năng suất ngô trung bình của Mỹ là 77,44 tạ/ha. Trung Quốc được xem là cường quốc đứng thứ hai trên thế giới và đứng thứ nhất trong khu vực Châu Á trong lĩnh vực sản xuất ngô. Năm 2012, diện tích trồng ngô của Trung Quốc là 34,97 triệu ha, chỉ ít hơn Mỹ 0,39 triệu ha.
Mặc dù diện tích trồng ngô của Trung Quốc tương đương với Mỹ, nhưng do năng suất thấp hơn (năm 2012 năng suất đạt 59,56 tạ/ha, chỉ bằng 76,91% năng suất ngô của Mỹ) nên sản lượng chỉ bằng 76,05% sản lượng ngô của Mỹ. Dự kiến Trung Quốc sẽ thu hoạch ngô với sản lượng kỷ lục 197,5 triệu tấn niên vụ này, tuy nhiên mức tăng sản lượng này vẫn không đủ cung cấp cho nhu cầu nội địa. Trung Quốc đã nhập khẩu 8 triệu tấn ngô niên vụ 2012-2013. Nước đạt năng suất ngô cao nhất trên thế giới hiện nay là Israel, đạt 255,56 tạ/ha (năm 2012), mặc dù năng suất ngô cao nhưng sản lượng ngô của Israel thấp do diện tích trồng ngô nhỏ (0,03 triệu ha).
Dự báo đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), trong đó các nước khu vực Đông Á được dự báo có nhu cầu tăng mạnh nhất vào năm 2020 (85%) (IRRI, 2003) [56]. Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh ở các nước này là do n 8 dân số tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng mạnh, đòi hỏi khối lượng ngô rất lớn để phát triển chăn nuôi. Theo dự báo của công ty Monsanto, vào năm 2030 nhu cầu ngô thế giới tăng 81 % so với năm 2000 (từ 608 triệu tấn lên 1.098 triệu tấn), nhưng 80 % nhu cầu ngô tăng (khoảng 266 triệu tấn) tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển (Bùi Mạnh Cường, 2006) [8].3: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 Năm 1997 Năm 2020 Vùng % thay đổi (triệu tấn) (triệu tấn) Thế giới 586 852 45 Các nước đang phát triển 295 508 72 Đông Á 136 252 85 Nam Á 14 19 36 Cận Sahara - Châu Phi 29 52 79 Mỹ Latinh 75 118 57 Tây và Bắc Phi 18 28 56 (Nguồn: IRRI (2003)[56]) 1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 1.
Hiện trạng sản xuất ngô của Việt Nam Cây ngô được đưa vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm. Do có khả năng thích ứng rộng, chịu thâm canh, năng suất cao nên cây ngô được trồng ở hầu hết các vùng trong cả nước. Sản xuất ngô ở Việt Nam đã có sự phát triển khá bền vững, số liệu bảng 1.4 cho thấy: Năng suất ngô ở Việt Nam năm 1990 chỉ đạt 15,5 tạ/ha, với diện tích 432.000 ha nhưng đến năm 2012 đã đạt 1.118,2 nghìn ha với năng suất 49,95 tạ/ha. n 9 Năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình thế giới trong suốt hơn 20 năm qua.
Năm 1980, năng suất ngô Việt nam chỉ bằng 34% so với trung bình thế giới, năm 2000 bằng 59,8%, năm 2012 đã tương đương với năng suất trung bình của thế giới. Năng suất ngô ở Việt Nam được cải thiện đáng kể nhờ những thành công trong nghiên cứu và sử dụng các giống ngô lai, đây được coi là cuộc cách mạng thực sự trong ngành sản xuất ngô, là bước tiến vượt bậc so với một số nước trong vùng. Sự phát triển ngô lai ở Việt Nam đã được Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT), tổ chức Nông lương (FAO) của Liên Hợp Quốc và các nước trong khu vực đánh giá rất cao. Hiện nay, Việt Nam đã đuổi kịp các nước trong khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô lai và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ cao (công nghệ gen, nuôi cấy bao phấn và noãn) (Ngô Hữu Tình, 2003)[33].4: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam năm 1990 - 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (1000 ha) (tạ/ha) (1000 tấn) 1990 432,0 15,5 671,0 2000 730,2 25,1 2005,9 2005 1052,6 36,0 3787,1 2006 1033,1 37,0 3819,4 2007 1096,1 39,6 4250,9 2008 1440,2 31,8 4573,0 2009 1089,2 40,1 4371,7 2010 1126,4 40,9 4606,8 2011 1121,3 43,1 4835,7 2012 1118,2 50,0 4803,2 (Nguồn: (FAOSTAT, 2013) [55]) n 10 Mặc dù diện tích, năng suất và sản lượng ngô của nước ta đều tăng nhanh nhưng so với bình quân chung của thế giới nhưng năng suất ngô vẫn còn rất thấp, mặt khác nhu cầu sử dụng ngô của Việt Nam ngày càng lớn, vì vậy cần có các biện pháp đồng bộ để thúc đẩy sản xuất ngô phát triển, trong đó chọn tạo giống có tiềm năng năng suất cao, khả năng chống chịu tốt là một vấn đề cấp bách hiện nay.
Hiện nay, sản lượng ngô của Việt Nam mới đạt 62 % so với mục tiêu vào năm 2015 và gần 50 % so với mục tiêu vào năm 2020 (Châu Ngọc Lý, 2012) [20]. Sản xuất ngô ở Việt Nam phát triển còn chậm chưa tương xứng với điều kiện hiện có vì: trên 70% diện tích tập trung ở đồi núi và cao nguyên phụ thuộc chủ yếu vào nước trời, trong đó 60 % diện tích ngô trồng trên đất dốc; Thời tiết nhiệt đới của Việt Nam biến động lớn về nhiệt độ, mưa, gió bão ảnh hưởng đến tất cả các vụ trồng ngô, dẫn đến khả năng kết hạt của ngô kém.