Đặt vấn Đề Sản xuất nông nghiệp đã đạt nhiều thành tích to lớn, lương thực một vấn đề cơ bản của người dân Việt Nam đã được giải quyết, từ đó người dân có điều kiện chủ động sản xuất cây trồng khác có giá trị kinh tế cao, mà trong đó cây có dầu là cây mũi nhọn chiến lược kinh tế. Hàng năm nước ta phải nhập số lượng dầu thực vật từ nước ngoài, trong khi tiềm năng sản xuất cây lấy dầu ở nước ta lại rất phong phú như: Cây Điều, Dừa, Đậu Tương, Vừng. Xuất phát từ giá trị kinh tế và dinh dưỡng, cũng như yêu cầu của thị trường về những sản phẩm của cây có dầu. Phát triển cây có dầu là một chiến lược quan trọng, nhằm tận đất đai mùa vụ, hình thành các vùng sản xuất tập trung phát triển nhanh các loại cây có dầu, đồng thời đầu tư toàn bộ cho khâu chế biến đảm bảo tăng nhanh khối lượng chất lượng và giá trị sản phẩm, đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống của Nhân Dân và xuất khẩu.
Tuy nhiên trong những năm qua tình hình sản xuất cây có dầu có nhiều biến động không ổn định. Trong các loại cây có dầu thì cây vừng là một loại cây ít được quan tâm bởi năng suất thấp nhu cầu tiêu thụ của sản phẩm thị trường còn hạn chế. Nhưng hiện nay các sản phẩm của cây vừng tăng đột biến của ngành công nghệ thực phẩm và nhu cầu của một số ngành khác như y học, hóa mỹ phẩm. Sản phẩm của cây vừng không chỉ dừng lại làm quà bánh và thức ăn của miền quê, vừng còn là nguồn dược liệu quý cho y học.
Việc gieo trồng ở những vùng đất có độ phì nhiêu thấp, nơi mà người nông dân có thu nhập thấp, đầu tư không cao mà cho hiệu quả kinh tế đó là chủ trương đúng đắn chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nhằm khai thác tốt nhất điều kiện tự nhiên. Vừng là cây dễ tính trồng được ở trên nhiều loại đất khác nhau, vùng bán khô hạn không chủ động tưới tiêu vẫn cho thu hoạch, sản phẩm sau thu hoạch cung cấp trở lại góp phần cải tạo đất. n 2 Xuất phát từ nhu cầu thiết yếu để phục vụ cho thực tế sản xuất chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng phát triển của giống vừng V26 vụ hè thu năm 2013 tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.2 Mục đích nghiên cứu. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống vừng thí nghiệm trong vụ hè thu năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống.3 Mục tiêu nghiên cứu. Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp nhất cho giống vừng V26 trong điều kiện vụ Hè Thu tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nhằm tạo điều kiện cho giống sinh trưởng phát triển tốt nhất và đạt được năng suất cao và ổn định.4 Ý nghĩa của đề tài.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa các kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích lũy kinh nghiệm trong sản suất, tạo lòng yêu nghề nghiệp cho sinh viên. Giúp cho sinh viên nắm được các bước tiến hành một đề tài khoa học, phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học.
Là cơ sở khoa học xác định mật độ trồng thích hợp cho giống vừng thí nghiệm để đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong thực tiễn sản xuất.2 Ý nghĩa sản xuất. Thông qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ đưa ra được mật độ trồng thích hợp nhất đối với giống vừng V26 trong vụ Hè Thu tại Thái Nguyên từ đó khuyến cáo cho nông dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Phát triển cây vừng một mặt tạo ra sự đa dạng trong sản xuất nông nghiệp, mặt khác nếu phát triển có định hướng loại cây trồng này không những giải quyết được lợi ích trước mắt mà về lâu về dài đây là cây trồng mang rất nhiều giá trị.
Muốn vậy ngoài những chính sách về vốn, giống, phân bón, giá cả… thì chúng ta cần có những biện phát kỹ thuật canh tác phù hợp trong sản xuất. Trong các yếu tố cấu thành năng suất thì mật độ đóng một vai trò rất quan trọng. Nếu trồng dày, số cây trên đơn vị diện tích nhiều, diện tích dinh dưỡng cho một cây hẹp dẫn tới cây thiếu dinh dưỡng, thiếu ánh sáng, ít phân cành, sớm bị che phủ làm cho lá rụng nhiều, số hoa ít, số quả/cây ít, khối lượng 1000 hạt nhỏ. Ngược lại nếu trồng thưa diện tích dinh dưỡng của cây trồng rộng cây phân nhánh nhiều, số hoa và số quả/ cây nhiều, khối lượng 1000 tăng nhưng trồng thưa mật độ thấp nên năng suất không cao.
Vì vậy gieo trồng với mật độ thích hợp là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để tăng năng suất và chất lượng nông sản. Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển cũng như năng xuất của vừng. Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng nếu gieo trồng đúng mật độ thích hợp thì sẽ cho năng xuất cao. Thực tế trong sản xuất hiện nay diện tích trồng vừng còn nhỏ lẻ và manh mún, nên việc áp dụng khoa học tiến bộ như máy gieo vừng là không có.
Hơn thế nữa là những vùng chuyên canh, người dân chưa chú ý áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản suất còn làm theo kinh nghiệm truyền thống như gieo vãi, mà không để ý đến mật độ thích hợp cho từng giống cho từng mùa vụ. Dẫn đến tình trạng lãng phí về giống và không phát huy về tiềm năng năng xuất của giống. Vì vậy việc xác định được mật độ gieo trồng thích hợp cho mỗi giống phù hợp với điều kiện sinh thái và điều kiện canh tác là rất cần thiết. từ đó cơ sở giúp người dân hiểu và áp dụng các mật độ thích hợp vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất.
Nguồn gốc phân loại đặc điểm thực vật học, công dụng và giá trị dinh dưỡng 2.1 Nguồn gốc phân loại đặc điểm thực vật học - Nguồn gốc Cây vừng hay còn gọi là mè có tên khoa học là Sesamum Indicum L…là một loại cây trồng đã có từ lâu đời, nó được biết cách đây khoảng 2500 - 1400 năm trước công nguyên. Nguồn gốc cây vừng có từ Châu Phi, nhiều ý kiến cho rằng Etiopi là nguyên sản của giống vừng trồng hiện nay. Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng vùng Afghan- Pesian mới là nguyên sản của giống vừng trồng là loại cây có dầu được trồng lâu đời (khoảng 2000 năm trước công nguyên). Sau đó được đưa vào vùng tiểu Á (Babylon) và được di chuyển về phía tây vào Châu Âu và phía nam vào Châu Á, đến Ấn Độ và một số nước nam Á (Ttrung Quốc, Ấn Độ) được xem là trung tâm phân bố cây vừng.
Ở Châu Mỹ, vừng được du nhập qua từ Châu Phi sau khi người Châu Âu khám phá ra Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chirtophecoloms người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đem vừng đi bán). - Phân loại Phân loại khoa học: Giới (reguum) Plantae Ngành (divsio) Empryophyta Lớp (class) Spermatopsida Bộ (ordo) Malpighiales Họ (familia) Euphorbiaceae Chi (henus) Jatropha Loài (species) J.curcas Cây dầu vừng bắt nguồn từ trung Mỹ, lan rộng tới các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới khác, mọc chủ yếu ở Châu Á và Châu Phi. Cây dầu vừng chịu được độ khô hạn cao (hoặc có thể sống được nơi hoang mạc) do nó không cạnh tranh với các cây trồng khác. Hạt vừng chiếm 30% dầu có thể được xử lý để tạo được dầu diesel sinh học chất lượng cao, sử dụng cho các động cơ diesel tiêu chuẩn.
n 5 Trên thế giới, vừng được trồng là Sesamun indicum Linn. Có số lượng nhiễm sắc thể 2n= 64, ngoài ra còn có S capennsen; S alanum; S chenkii; S laniatum có 2n= 64. Vừng có nhiều giống và dòng khác nhau về thời gian sinh trưởng, màu sắc của hạt và dạng cây. Một số giả thiết cho rằng có đoàn du khảo của Liên Xô đi khắp thế giới đã thu được 500 mẫu, chia ra 111 dạng khác nhau.
Hiện nay phân loại vừng dựa vào một số đặc tính thực vật như sau: + Về thời gian sinh trưởng: phân loại giống có thời gian sinh trưởng dài ngày (trên 100 ngày), giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày (dưới 100 ngày), cách phân loại này quan trọng để xây dựng công thức luân canh với cây trồng khác như cây lúa, ngô, cây họ đậu khác. + Số khía trên quả vừng: phân loại các giống vừng có 4 khía, 6 khía, 8 khía dùng cách phân loại này để chọn cỡ hạt vừng nhỏ. + Quả vừng bị nứt hoặc không nứt trong khi thu hoạch: phân loại này giúp cho tác xác định được khi thu hoạch sớm tránh bị nứt quả. + Màu sắc hạt: phân loại này thường phổ biến nhất (hạt màu đen, hoặc màu vàng, trắng), trong phân loại có hai màu: vừng đen (Sesanum indicum L), có phẩm chất tốt hơn vừng trắng.
Vỏ hạt phân biệt vừng 1 vỏ với vừng 2 vỏ, vừng 1 vỏ có hàm lượng dầu cao. Ngoài các cách phân biệt trên ta còn phân biệt vừng theo thời vụ trồng, số hoa ở nách lá, sự phân cành trên cây. Đặc điểm thực vật học • Rễ Vừng Rễ vừng thuộc họ rễ cọc, có hệ thống rễ chùm phát triển. Kiểu sinh trưởng của bộ rễ có mối quan hệ với điều kiện sinh thái, cho nên bộ rễ sinh trưởng ở vùng có khí hậu khô và nóng có khí hậu ẩm có khác nhau, ở vùng khí hậu khô thì hệ thống rễ phát triển nhanh, mạnh nhất đối với kiểu cây có nhiều cành, còn kiểu cây ít cành, đơn thân thì yếu hơn.
Rễ cọc của cây vừng ở kiểu đơn cành phát triển nhanh hơn ở kiểu nhiều cành, trong khi đó thì rễ chùm của kiểu nhiều cành lại phát triển nhanh hơn. Sự phát triển của bộ rễ phụ thuộc rất nhiều vào tính chất đất, ở đất cát pha thì bộ rễ phát triển mạnh hơn ở đất sét. Nơi có độ ẩm cao thì bộ rễ lại phát triển kém. Khi gặp úng vừng sẽ bị chết.