Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới Trên thế giới sắn được trồng trên 100 nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới từ 30 vĩ độ Bắc đến 30 vĩ độ Nam chủ yếu thuộc ba châu lục: Châu Á, châu Phi và châu Mĩ La Tinh. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.
Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới giai đoạn 2000 - 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2000 17,00 10,38 176,53 2005 18,30 11,32 207,33 2006 18,39 12,11 222,87 2007 18,68 12,11 226,31 2008 18,67 12,44 232,46 2009 19,06 12,64 240,98 Nguồn: FAOSTAT 2010 [32] Sản lượng sắn của toàn thế giới trong năm 2009 là khoảng 240,98 triệu tấn, tăng 33,65 triệu tấn so với năm 2005 và 64,45 triệu tấn so với năm 2000. Từ năm 2000 đến năm 2009 diện tích sắn đã tăng 2,06 triệu ha, năng suất tăng 2,26 tấn/ha, sản lượng sắn đã tăng 64,45 triệu tấn. Qua số liệu bảng 1.1 ta thấy rằng cây sắn hiện nay đang phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Có được kết quả đó là do chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự tôn vinh giá trị của cây sắn, vì sắn là cây lương thực dễ trồng, thích n 4 hợp với đất nghèo dinh dưỡng và là cây công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao với nhiều cây công nghiệp khác (FAO STAT, 2010) [32].
Hiện nay cây sắn được trồng tại 105 quốc gia, năm 2009 toàn thế giới có 19.06 nghìn ha sắn, trong đó có 64,8% diện tích sắn được trồng ở Châu Phi, Châu Á chiếm 21,2%, Châu Mỹ chiếm 14%. Năm 2009 trên thế giới có 51,8% sản lượng sắn được sản xuất ở châu Phi, Châu Á 33,8% và chỉ có 14,4% ở Châu Mỹ (Bảng 1. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của những nước trồng sắn chính trên thế giới năm 2009 (sản lượng hơn 1 triệu tấn) Diện tích Năng suất Sản lượng Vùng trồng (1.000 ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Toàn thế giới 19.353 10,10 124,83 Angola 994,42 12,9 12,83 Cameroon 365 6,85 2,5 Ghana 885,8 13,81 12,23 Uganda 411 12,6 5,18 Châu Á 4.175,67 18,75 22,04 Việt Nam 508,8 16,81 8,55 Ấn Độ 280 34,37 9,62 Trung Quốc 270,58 16,67 4,51 Philippin 215,9 9,47 2,04 Campuchia 157 22,27 3,5 Châu Mỹ 2.872,81 13,9 26,03 Colombia 164,75 13,37 2,2 Paraguay 180 14,5 2,61 Peru 104,82 11,65 1,22 Nguồn: FAOSTAT 2010 [32]. n 5 Châu Phi có tổng diện tích trồng sắn năm 2009 là 12.353 nghìn ha, năng suất củ tươi bình quân 10,10 tấn/ha, sản lượng 124,83 triệu tấn [32].
Ở Châu Phi nước có diện tích sắn lớn nhất là Angola với 994,42 nghìn ha, năng suất đạt 12,9 tấn/ha, sản lượng 12,83 triệu tấn. Angola là nước có diện tích sắn lớn nhất nhưng năng suất lại thấp hơn Ghana 0,91 tấn/ha. Sắn là nguồn lương thực chính của người dân tại nhiều nước ở vùng này. Châu Phi là nơi tình trạng suy dinh dưỡng tăng lên gấp đôi trong hai thập kỷ qua nên cây sắn hiện được coi là giải pháp an toàn lương thực hàng đầu.
Năm 2009 tổng diện tích sắn trồng ở Châu Mỹ là 2.668 nghìn ha, năng suất củ tươi bình quân 13,00 tấn/ha, sản lượng 34,68 triệu tấn. Năng suất trung bình ở Châu Mỹ cao hơn năng suất trung bình của Châu Phi là 2,9 tấn/ha. Brazil là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất thế giới với 1.872,81 nghìn ha, Thái Lan là nước có diện tích lớn thứ 2 trên thế giới với 1.326,74 nghìn ha, thấp hơn so với Brazil là 546,07 nghìn ha. Tồn tại chính trong sản xuất và tiêu thụ sắn ở Châu Mỹ là trình độ kỹ thuật thâm canh chưa cao, công nghiệp chế biến tinh bột sắn không phát triển bằng Châu Á, sắn chủ yếu sử dụng tươi và làm thức ăn gia súc.
Châu Á cùng với Châu Phi và Châu Mỹ là một trong ba vùng sắn quan trọng của thế giới. Diện tích sắn Châu Á hiện có 4.037 nghìn ha, sản lượng 81,47 triệu tấn đứng thứ hai sau Châu Phi, năng suất sắn ở Châu Á hiện đạt bình quân 20,18 tấn/ha cao hơn Châu Phi 10,08 tấn/ha. Ấn Độ hiện là nước có năng suất đạt cao nhất trên thế giới với 34,37 tấn/ha, Thái Lan là nước có năng suất cao đứng thứ 2 trên thế giới (22,68 tấn/ha) thấp hơn so với Ấn Độ là 11,69 tấn/ha. Sản xuất sắn tại Châu Á tăng ở mức cao của 3%/năm trong thời gian cuối những năm 70 và đầu 80, những năm 90 sản xuất sắn phát triển chậm lại.
Sản xuất sắn được phát triển khá nhanh trở lại ở 3,3%/năm trong suốt 10 năm qua. n 6 Kết quả về sản xuất sắn ở một số nước Châu Á năm 2009 được thể hiện ở bảng 1.2 như sau: Nhìn vào số liệu bảng 1.2 ta thấy nước có diện tích, sản lượng sắn cao nhất của Châu Á là Thái Lan với 1.326,74 nghìn ha và 30,09 triệu tấn, kế đến là Indonexia với 1.175,67 nghìn ha và 22,04 triệu tấn. Năng suất sắn của các nước ở Châu Á trong các năm qua đều tăng nhanh, Ấn Độ là nước có năng suất sắn cao nhất thế giới (34,36 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (22,68 tấn/ha). Tổ chức Lương thực thế giới (FAO) xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì.
Sản lượng sắn của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT.1993) [41] Sắn không những là cây lương thực mà là cây thức ăn gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới đồng thời cũng là cây hàng hoá xuất khẩu có giá trị nhằm chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm. Hiện nay các nước trên thế giới ngoài phần sắn sử dụng ăn tươi ra thì còn dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến tinh bột. Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Năm 2008 Trung Quốc đã sản xuất một triệu tấn ethanol, họ đã thoả thuận với một số quốc gia lân cận để cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol… Tại Thái Lan, nhiều nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng năm 2008.
Indonesia đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt đầu từ năm 2010 [29]. Các nước như Lào, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đang nghiên cứu thử nghiệm để sản xuất ethanol. n 7 Về xuất khẩu Thái Lan là nước xuất khẩu sắn nhiều nhất trên thế giới, số lượng sắn xuất khẩu chiếm trên 85% lượng xuất khẩu sắn toàn cầu, kế đến là Indonesia và Việt Nam. Thị trường xuất khẩu sắn chủ yếu của Thái Lan là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và cộng đồng châu Âu với tỷ trọng xuất khẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bột sắn, 25% là sắn lát và sắn viên.
Giá sắn trên thị trường thế giới biến động nhiều. Đầu năm 2008 tăng mạnh, có thời điểm giá sắn lát nhập khẩu vào trung Quốc đạt 200 USD/tấn và giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan đạt khoảng 440 USD/tấn. Nhưng từ cuối năm 2008 do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, giá sắn đã giảm rất mạnh. Giá tinh bột sắn vào tháng 2/2009 chỉ còn 240 USD/tấn, giảm 40% so với cùng kỳ 2008.
Tuy vậy trong những tháng gần đây, sự phục hồi của giá dầu thô và nhu cầu tiêu thụ sắn của Trung Quốc tăng mạnh đã giúp giá sắn tăng trở lại. Hiện giá tinh bột sắn tại Thái Lan đã tăng lên 285 USD/tấn, tăng 19% so với tháng 2/2009. Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020. Năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275.10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274.7 triệu tấn, các nước đã phát triển khoảng 0.
Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254.60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20. Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176.3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53. Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn tại Việt Nam Ở Việt Nam cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực thành cây công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản lượng sắn đã tăng nhanh ở thập n 8 kỷ đầu của thế kỷ XXI.
Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và kinh tế nông hộ (Hoàng Kim và Phạm Văn Biên, 1999) [1]. Ở Việt Nam sắn là một trong bốn cây trồng, có vai trò quan trọng trong chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô. Việt Nam là nước nông nghiệp với dân số trên 80 triệu người. Trong đó hiện có 5% hộ đói và 20% hộ nghèo, cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo [15].
Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn của Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước tiến đáng kể. Tại Việt Nam sắn được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của các vùng sinh thái nông nghiệp. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam qua các năm và phân theo các vùng sinh thái được thể hiện qua bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2000 234,9 8,66 2,034 2005 425,5 15,78 6,716 2006 475,2 16,37 7,783 2007 495,5 16,53 8,193 2008 555,7 16,90 9,396 2009 508,8 16,81 8,557 Nguồn: FAOSTAT 2010 [32].
Qua số liệu bảng 1.3 ta thấy: Trong vòng 10 năm từ năm 2000 - 2009 diện tích trồng sắn tăng từ 234,9 nghìn ha lên 508,8 nghìn ha và năng suất tăng từ 8,66 tấn/ha lên 16,81 tấn/ha. Sản lượng tăng gấp 4 lần từ 2.034 nghìn tấn lên 8. n 9 Sản xuất lương thực là ngành trọng tâm và có thế mạnh của Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020.