Đặt vấn đề Chăn nuôi và sử dụng nguồn thực phẩm từ gia cầm đặc biệt là gà ngày càng phổ biến không chỉ ở vùng nông thôn mà cả ở thành thị, nhu cầu sử dùng càng cao thì các yêu cầu chất lượng của người tiêu dùng đối với nguồn thực phẩm càng tăng. Vì vậy để tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, đáp ứng với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, bên cạnh việc chọn lọc và cải tạo giống thì thức ăn cũng là một yếu tố quan trọng quyết định tới năng suất và chất lượng sản phẩm. Trên thực tế, có không ít nhà chăn nuôi vẫn đang sử dụng các loại thuốc kháng sinh để chữa trị bệnh và các loại thuốc kích thích tăng trưởng, tuy mang lại hiệu quả tốt nhưng việc lạm dụng kháng sinh và chất kích thích vào chăn nuôi để lại nhiều tác dụng phụ cũng như hậu quả khôn lường như: kháng kháng sinh, tồn dư kháng sinh trong sản phẩm,… Theo Nguyễn Văn Chính và cs (2019) [21], khi kiểm tra 36 mẫu thịt gà, 12 mẫu thịt gà, 6 mẫu thịt cá tại một số cơ sở chăn nuôi trên cả nước đã phát hiện 3 mẫu có tồn dư kháng sinh bao gồm: cefalexin trên thịt gà, amoxicillin trên thịt gà, ampicillin trên thịt cá. Kháng sinh tồn dư gây nguy hại đến sức khỏe con người.
Chính vì vậy, nghiên cứu về tiềm năng của các chất bổ sung tự nhiên để thay thế các chất hóa học có ý nghĩa rất quan trọng. Nhiều giải pháp đã được đặt ra để có thể ngừng sử dụng hoàn toàn kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi, kết hợp thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học, một trong những giải pháp được quan tâm cao là tận dụng và phát huy nguồn tài nguyên cây thuốc rất phong phú tại Việt Nam. Với tiến bộ khoa học kỹ thuật con người đã tìm ra một số hoạt chất sinh học cao trong thảo dược như các hợp chất sulphuric và allicin có trong tỏi, zingerol và shogaola có trong gừng, curcumin có trong nghệ… các chất này có tác dụng kích thích hoạt động hệ thống miễn dịch, cải thiện tăng khối lượng, giảm tiêu tốn thức ăn từ đó giảm giá thành sản phẩm. Theo Diệp Thị Lệ Chi (2019) [4] khi nghiên cứu chăn nuôi động vật thảo dược cho thấy vật nuôi thảo dược không có dư lượng thuốc kháng sinh khi xuất bán, do đó đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng, bên cạnh đó giảm được chi phí sử dụng thuốc thú y, giảm tỉ lệ chết, mở ra hướng đi mới trong tiếp cận thị trường đối vớ sản phẩm vật nuôi sạch phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe người tiêu dùng.
Xuất phát từ vấn đề trên em đã 2 tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của bột nghệ bổ sung trong thức ăn đến khả năng sinh trưởng, sức đề kháng bệnh đối với gà đẻ hậu bị giai đoạn 1 - 19 tuần tuổi nuôi tại Lào Cai”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu xác được định tỷ lệ bổ sung bột nghệ phù hợp trong thức ăn đến khả năng sinh trưởng, sức đề kháng bệnh của gà đẻ hậu bị 1-19 tuần tuổi. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá ảnh hưởng của các tỷ lệ bột nghệ bổ sung đến tỷ lệ nuôi sống của gà đẻ hậu bị 1-19 tuần tuổi. - Đánh giá ảnh hưởng của các tỷ lệ bột nghệ bổ sung đến khả năng sinh trưởng của gà đẻ hậu bị 1-19 tuần tuổi.
- Đánh giá ảnh hưởng của các tỷ lệ bột nghệ bổ sung đến khả năng thu nhận thức ăn của gà đẻ hậu bị 1-19 tuần tuổi. - Đánh giá ảnh hưởng của các tỷ lệ bột nghệ bổ sung đến khả năng kháng bệnh của gà đẻ hậu bị 1-19 tuần tuổi. - Đánh giá hiệu quả kinh tế. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Đề tài sau khi hoàn thành sẽ cung cấp các thông tin khoa học đáng tin cậy về ảnh hưởng của bột nghệ bổ sung trong thức ăn đến khả năng sinh trưởng, sức kháng bệnh của gà đẻ hậu bị 1-19 tuần tuổi. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên và những nghiên cứu có liên quan. Ý nghĩa thực tiễn - Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và tích lũy kinh nghiệm trong việc chăn nuôi gia cầm tại các cơ sở sản xuất. Từ đó giúp sinh viên củng cố và nâng cao được kiến thức chuyên môn.
3 - Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin cho người chăn nuôi tham khảo sử dụng bột nghệ bổ sung vào khẩu phần ăn trong chăn nuôi gà đẻ, giúp nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất 2.
Điều kiện tự nhiên Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Lào Cai được đặt trong một khu vực có điều kiện tự nhiên đa dạng và phong phú: - Địa hình: Lào Cai nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, gần biên giới với Trung Quốc, có địa hình chủ yếu là đồi núi và thung lũng. Điều này tạo điều kiện cho một môi trường học tập và nghiên cứu đa dạng về mặt địa lý và sinh thái. Ngoài ra, Lào Cai là một tỉnh có nguồn tài nguyên thực vật và động vật bản địa đa dạng góp phần giúp sinh viên đặc biệt sinh viên khoa Nông Lâm có cơ hội tiếp cận, học tập và nghiên cứu đóng góp vào việc nghiên cứu và bảo tồn các gen bản địa tại địa phương. - Khí hậu: Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do nằm ở vùng núi cao nên khí hậu mát mẻ hơn so với nhiều vùng khác ở Việt Nam.
Mùa hè, nhiệt độ trung bình khoảng 20-25°C, có nơi nhiệt độ lên tới 29-30°C. Mùa đông, nhiệt độ có thể xuống dưới 0°C, thường có gió mùa Đông Bắc. Điều kiện khí hậu khá điều hoà là yếu tố thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng các cây trồng, phù hợp để chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm và thuỷ sản. Cơ sở vật chất Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Lào Cai có cơ sở vật chất hiện đại và đáp ứng các tiêu chuẩn giáo dục cao gồm: khu vực học tập, thư viện, phòng máy tính; phòng thí nghiệm với các thiết bị công nghệ tân tiến; khu vực nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên khoa nông lâm (khu chăn nuôi được chia thành nhiều chuồng riêng biệt, xung quanh là cây ăn quả, vườn cây dược liệu tạo bóng mát cho các chuồng nuôi tạo điều kiện thuận lợi cho các giống gia súc gia cầm được nghiên cứu tại đây).
Ngành chăn nuôi được trang bị các thiết bị và công nghệ hiện đại như cân điện tử, máy sấy, kính hiển vi,…các loại hóa chất tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên. Đối tượng và các kết quả hoạt động/sản xuất của cơ sở (trong 3 năm). Trong 3 năm gần đây, giảng viên và sinh viên khoa Nông Lâm đã thực hiện nhiều đề tài các cấp trong lĩnh vực nông nghiệp. Các bài nghiên cứu đều đạt kết quả cao, nhiều bài báo khoa học được đăng trên các tạp chí có uy tín trong nước và nước ngoài và tổ chức nhiều hội thảo khoa học.
Cơ sở khoa học của đề tài. Một số thông tin khoa học về nghệ Bột nghệ được làm từ củ nghệ tươi, sau khi được sơ chế sạch cắt nhỏ mang đi sấy khô rồi nghiền nát. Bột nghệ có màu vàng đậm, có hương thơm nồng, vị đắng nhẹ hoặc không có vị, bột không mịn vì còn chứa nhiều tạp chất. Củ nghệ chứa 6,3% protein, 5,1% chất béo, 3,5% khoáng chất, 69,4% carbohydrate và 13,1% độ ẩm (Chattopadhyay và cs.
Nhiều nghiên cứu đã khai thác sâu về thành phần các chất có trong nghệ. Các thành phần hoạt tính kháng oxy hóa như tetrahydrocurcuminoids (Osawa và cs, 1995 [47]), curcumin, demethoxycurcumin và bisdemethoxycutcumin (Wuthi-udomler và cs, 2000 [57]). Ngoài ra, nghệ còn có hoạt tính kháng khuẩn và kháng viêm (Nonose và cs, 2014 [45]) và giảm quá trình peroxy hóa lipid (Rukkumani và cs, 2004) [52]. Khi so sánh với kháng sinh tổng hợp, chất phytochemical trong nghệ được biết đến là chất tự nhiên, ít độc hại hơn, không có dư lượng và được cho là lý tưởng làm chất phụ gia thức ăn trong khẩu phần ăn của động vật (Wang và cs 1998) [56].
Từ lâu bột nghệ đã được dùng phổ biến như một loại phụ gia trong chế biến thực phẩm và là một thảo dược an toàn trong y học cổ truyền và dân gian: chống viêm và chống oxy hóa giúp giảm nguy cơ gây ung thư, cải thiện sức khỏe hệ tiêu hóa hoạt động tốt, thải độc cho gan. Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, bổ sung bột nghệ vào thức ăn chăn nuôi còn có tác dụng kích thích, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, chữa giun sán và chống ký sinh trùng ngoài da. Đặc biệt đối với gia cầm nói chung và gà đẻ nói riêng, chế độ ăn bổ sung thêm curcumin như một giải pháp thay thế kháng sinh và tăng màu sắc của lòng đỏ đang rất được quan tâm. Một số thông tin về gà thí nghiệm Gia cầm sử dụng trong thí nghiệm của đề tài là gà mái Ai cập lai VGA (con lai của gà trống VCN-G15 và gà mái Ai Cập).
Đây là dòng gà kiêm dụng hướng trứng được ưa chuộng hiện nay ở nước ta. Gà mái lúc 01 ngày tuổi có lông trắng, có điểm vài chỗ có đốm đen, chân màu vàng hoặc trắng hồng. Khi trưởng thành gà có thân hình chữ nhật, dáng thanh tú, nhanh nhẹn, lông trắng toàn thân, có điểm vài chỗ có đốm đen, chân cao màu vàng hoặc trắng (chân vàng chiếm trên 80%), mỏ trắng, mào đơn to thể hiện ngoại hình của gà hướng trứng. Có sức sống tốt, tỷ lệ nuôi sống cao.
Lượng thức ăn tiêu thụ (0-19 tuần tuổi) đạt 7075g/con. Tại thời điểm 9 tuần tuổi khối lượng cơ thể gà mái VGA đạt 674,12 g/con, tại thời điểm 19 tuần tuổi gà VGA 1273,3 g/con. Theo Trần Kim Nhàn và cs (2010) [31], khối lượng trứng 38 tuần tuổi 49,00 - 49,8g. Sản lượng trứng/mái/72 tuần tuổi đạt 231,9 - 239,82 quả cao hơn gà Ai Cập 32,36 - 40,28 quả/mái.
Tiêu tốn thức ăn/10 trứng từ 1,82 - 1,88 kg. Ưu thế lai về sản lượng trứng từ +0,81 - 4,26%, ưu thế lai về TTTĂ/10 trứng từ - 2,84 đến 5,94%. Chất lượng có tỷ lệ lòng đỏ khá cao 28,36 - 28,92%. Tỷ lệ trứng phôi đạt 96,07 - 96,31%.
Tỷ lệ nở/trứng ấp 86,39 - 86,61% và tỷ lệ nở gà loại 1/trứng ấp 83,96 - 84,19%.