CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chính của hơn một nửa dân số thế giới, tập chung chủ yếu ở các nước Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. Lúa gạo đóng vai trò quan trọng đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội. Theo dự báo của IRRI, do áp lực của tăng dân số, tổng nhu cầu gạo của thế giới sẽ tiếp tục tăng mạnh khoảng 50 triệu tấn/ năm trong giai đoạn 2008-2015, trong đó các nước Châu Á tăng 38 triệu tấn/năm trong giai đoạn từ năm 2008-2015 (FAO 2019) Lúa gạo là cây trồng chính, cung cấp trên 50% tổng nhu cầu lương thực của Thế giới.
Về mặt tiêu dùng, lúa gạo là loại lương thực được tiêu thụ nhiều nhất (chiếm khoảng 85% tổng sản lượng sản xuất), tiếp đến là lúa mì (chiếm khoảng 60%) và ngô (khoảng 25%).1 Tình hình sản xuất lúa gạo thế giới giai đoạn 2007 – 2017 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu tấn) (triệu ha) (tạ/ha) 2007 155,31 42,92 656,05 2008 160,08 42,92 794,96 2009 157,79 43,45 685,65 2010 161,67 43,36 701,10 2011 162,71 44,64 722,63 2012 162,18 45,39 736,26 2013 164,53 45,09 741,98 2014 162,25 45,57 742,42 2015 160,91 46,04 740,08 2016 159,807 46,37 740,96 2017 167,25 46,02 769,96 (Nguồn: FAOSTAT - 2019) Theo thống kê của tổ chức lương thực và Nông nghiệp - Liên hợp quốc (FAO, 2018), có 114 nước trên thế giới trồng lúa gạo, trong đó: 18 nước có e 5 diện tích gieo trồng trên 1 triệu ha; 31 nước có diện tích gieo trồng trong khoảng từ 200.000 ha đến 1 triệu ha.Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á nơi chiếm tới 88,2% diện tích gieo trồng và sản lượng. Theo thống kê của FAO cho thấy diện tích canh tác lúa những năm đầu của thế kỷ 21, vẫn có xu hướng tăng nhưng xu hướng chậm. Từ 2013 đến năm 2017 diện tích trồng lúa tăng rất ít, có những năm diện tích sụt giảm, năng suất tăng không đáng kể từ 45,09 tạ/ha (năm 2013) lên 46,02 tạ/ ha (năm 2017). Sau năm 2007, diện tích trồng lúa gạo của thế giới có xu hướng tăng chậm, có những năm còn giảm.
Năm 2010, diện trồng lúa gạo là 161,10 triệu ha; đến năm 2015 chỉ còn 160,91 triệu ha và năm 2017 là 167,25 triệu ha. (Theo FAO, 2019) Mặc dù có xu hướng gia tăng về năng suất và sản lượng nhưng tình hình sản xuất lúa gạo vẫn thay đổi bất thường theo điều kiện khí hậu hàng năm. Nguyên nhân chủ yếu là do trên 40% diện tích trồng lúa hiện nay vẫn còn lệ thuộc vào nước trời. Và sự thụt giảm về diện tích những năm gần đây là do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nông dân không chú trọng đầu tư vào cây lúa và xu hướng chuyển dần sang trồng những cây hoa màu khác có hiệu quả kinh tế cao hơn.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của Châu Á những năm trở lại đây Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu tấn) (triệu ha) (tạ/ha) 2012 143,27 46,49 666,10 2013 145,41 46,25 672,53 2014 143,79 46,57 669,76 2015 141,84 47,09 668,03 2016 140,48 47,09 667,93 2017 167,25 46,02 769,66 (Nguồn: FAOSTAT - 2019).
e 6 Châu Á sản xuất và tiêu thụ trên 90% tổng sản lượng lúa gạo sản xuất trên thế giới trong đó Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pakistan và Việt Nam đóng vai trò quan trọng. Vùng này có ảnh hưởng quyết định đến việc điều tiết và tương lai phát triển ngành sản xuất lúa gạo thế giới. Đông Nam Á tiếp tục dự thừa lúa gạo chủ yếu ở các nước Việt Nam, Thái Lan và Myanmar, sản lượng lúa gạo của vùng có thể đạt 425 triệu tấn, với mức tăng trưởng khoảng 6% mỗi năm vào năm 2030 (Theo dự báo của FAO 2015).3: Tình hình sản xuất lúa gạo của 6 nước sản xuất lúa gạo lớn nhất trên thế giới năm 2017 Diện tích (triệu Năng suất Sản lượng (triệu Nước ha) (tạ/ha) tấn) Thế giới 167,25 46,02 769,96 Trung Quốc 30,6 67,5 206,5 Ấn Độ 43,4 36,2 157,2 Indonesia 13,8 51,4 70,9 Bangladesh 11,8 44,2 52,2 Thái Lan 9,65 28,4 20,7 Việt Nam 7,70 55,48 42,76 (Nguồn: FAO STAT-2019) Trong số các nước sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới thì hiện nay Trung Quốc với diện tích là 30,6 triệu ha chiếm 18,2%. Về năng suất và sản lượng lúa Trung Quốc là nước có năng suất và sản lượng lúa cao nhất đạt 67,5 tạ/ha và 206,5 triệu tấn chiếm 27,3% tổng sản lượng lúa gạo trên thế giới.
Ấn Độ đang là nước đứng đầu về diện tích trồng lúa với 43,4 triệu ha trồng lúa, chiếm 26,2% tổng diện tích trồng lúa trên thế giới. Tuy nhiên Ấn Độ là nước có sản lượng lúa gạo đứng thứ 2 toàn thế giới với sản lượng lúa gạo năm 2017 đạt 157,2 triệu tấn chiếm 21,4% tổng sản lượng lúa gạo toàn thế giới.Thái Lan là nước có năng suất lúa thấp nhất trong số các nước này với năng suất lúa e 7 trung bình năm 2016 chỉ đạt 28,4 tạ/ha và thấp hơn so với năng suất trung bình toàn thế giới. Tuy nhiên gạo Thái Lan chất lượng gạo thơm ngon nên giá trị cao hơn so với gạo Việt Nam. Việt Nam đứng thứ 6 với năng suất 55,8 tạ/ha, cao hơn khá nhiều so với năng suất trung bình toàn thế giới.
Nhưng giá trị gạo Việt Nam xuất khẩu thấp, không được giá bằng các nước cùng xuất khẩu trong khu vực. Các nhà chọn giống dự đoán trong vòng 10 năm tới, năng suất lúa thế giới không tăng về số lượng do những giống lúa có chất lượng gạo thơm ngon, năng suất thấp sẽ thay thế dần những giống năng suất cao trước đây. Tuy nhiên do tốc độ tăng dân số nhanh hơn nên hàng năm mức tiêu thụ gạo bình quân đầu người sẽ giảm khoảng 0,4% mỗi năm. Ấn Độ và Trung Quốc vẫn sẽ là nước tiêu thụ gạo nhiều nhất và ước khoảng 50% lượng gạo tiêu thụ toàn thế giới.
Giá gạo thế giới sẽ tăng bình quân 0,3% mỗi năm và lượng gạo lưu thông trên thị trường thế giới cũng gia tăng trung bình 1,8%/năm. Khoảng năm 2016, lượng gạo trao đổi toàn cầu sẽ đạt 33,4 triệu tấn. Cùng với tăng năng suất và giảm mức tiêu thụ trên đầu người, Ấn Độ và Thái Lan sẽ là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Gạo xuất khẩu từ Pakistan sẽ giảm, trong khi Việt Nam sẽ ổn định vì mức tiêu thụ trong nước tăng nhanh hơn mức sản xuất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
Dân số thế giới hiện nay, trung bình tăng thêm 1 tỷ người sau 14 năm. Diện tích cây trồng trên đầu người: 0,25 ha/năm (1998), và dự đoán còn 0,15 ha vào năm 2050. Mức độ gia tăng năng suất thấp: tăng 2,1%/năm trong thập niên 1980, và 1,0% trong thập niên 1990. Thách thức đặt ra cho nhân loại là diện tích nông nghiệp giảm (1,5 tỷ ha) vào năm 2050, nước tưới cho nông nghiệp giảm, nhưng phải tăng sản lượng lương thực gấp đôi (Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang, 2013).
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đối với ngành sản xuất lúa gạo nói chung cũng như các nhà nghiên cứu nói riêng phải nâng cao hơn nữa năng suất, sản lượng đảm bảo an ninh lương thực. e 8 Xét về tiêu dùng thì lúa được tiêu thụ nhiều nhất, chiếm 85% tổng sản lượng sản xuất ra, sau đó là lúa mỳ chiếm 60% và ngô chiếm 25%. Nhu cầu gạo nhập khẩu của thị trường trên thế giới cũng tương đối khác nhau, Châu Âu, Châu Mỹ thường có nhu cầu nhập khẩu gạo chất lượng cao, trong khi đó Châu Phi lại có nhu cầu nhập khẩu gạo chất lượng trung bình hoặc thấp, đây được coi là thị trường nhập khẩu dễ tính nhất. Trong những năm qua Indonexia là nước luôn có nhu cầu nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, lượng gạo nhập khẩu của Indonexia lên tới 5,7 triệu tấn, Philippin, Malaysia, Nhật cũng là những quốc gia có nhu cầu nhập khẩu khá lớn. Hiện nay lượng gạo trao đổi trên trên thị trường thế giới chiếm tỷ trọng thấp trong tổng cung (dưới 4%) và giá gạo chịu ảnh hưởng rất lớn lượng mua vào của một số nước nhập khẩu chính như Indonexia, Philippin,… Trong năm 2017, Châu Á đạt được năng suất và sản lượng cao trong sản xuất lúa gạo tại các nước như Trung Quốc, Ấn Ðộ, Bangladesh, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. Trong những năm tới, sản lượng lúa tiếp tục giảm ở châu Âu và Mỹ do chuyển sang trồng các loại cây trồng khác. Châu Á diện tích cũng có xu hướng giảm do đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, nhiều cây có giá trị cao hơn dần thay thế cây lúa.
Người nông dân có nguồn thu nhập cao hơn từ những cây trồng hoa màu khác và công việc phi nông nghiệp. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam So sánh diện tích canh tác và sản lượng giữa lúa và các cây lương thực khác ở Việt Nam thì lúa gạo vẫn là cây lương thực chủ lực được ưu tiên hàng đầu với diện tích nhiều nhất hơn hẳn ngô và sắn, sản lượng cao hơn khoai lang và sắn. Việt Nam vượt trội trong khu vực Đông Nam Á nhờ hệ thống thủy lợi được đầu tư cải thiện đáng kể cũng như việc ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật mới về dòng, phân bón và bảo vệ thực vật. e 9 Việc sản xuất lúa của các địa phương đã tập trung và có bước đột phá mạnh mẽ trong khâu tổ chức sản xuất, nhất là chú trọng việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn.
Tuy nhiên những năm trở lại đây diện tích lúa gạo suy giảm. Năm 2017, diện tích sản xuất lúa của cả nước đạt khoảng 7,708 triệu giảm 67000 tấn so với năm 2016. (Theo FAO năm 2019) Ở Việt Nam, nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp 22,1% GDP năm 2008, gần 30% giá trị xuất khẩu. Nông nghiệp đã đạt được những thành tựu to lớn, mặc dù thường gặp những tổn thất nặng nề do thiên tai.
Lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp là lĩnh vực duy nhất trong nền kinh tế liên tục xuất siêu, năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong những giai đoạn kinh tế gặp khó khăn. Theo bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2019), kim ngạch xuất khẩu năm 2018 đạt khoảng 49,08 tỷ USD tăng 8,4% so với năm 2017, trong đó tăng trưởng trung bình của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: điện thoại và các linh kiện điện thoại, hàng dệt may, máy vi tính, thư tư là nông sản: rau quả, gạo, cà phê; cao su; điều ; hải sản.