Đặt Vấn Đề Từ thực tế Xã Mỹ Phước, huyện Hòn Đắt, tỉnh Kiên Giang, nhiều mô hình trồng lúa được hình thành với việc đưa các giống có năng suất cao vào sản xuất. Người dan ở đây cũng có xu hướng thay đổi từ giống lúa địa phương sang giống lúa có năng suất cao và phẩm chất tốt. Từ đó, tôi thực hiện đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của giống lúa có năng suất cao được trồng tại địa phương.2 Chương 2: Cơ Sở Lý Luận Và Phương Pháp Nghiên Cứu Trình bày những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế. Các phương pháp thực hiện đề tài.
Các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài.3 Chương 3: Tổng Quan Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, Kinh tế - Xã hội tại địa bàn nghiên cứu nhằm xác định những thuận lợi và khó khăn ở địa phương trong việc sản xuất giống lúa OM 1723 có năng suất cao và phẩm chất tốt.4 Chương 4: Kết Quả Nghiên Cứu Và Thảo Luận: gồm các nội dung Phân tích thời vụ sản xuất lúa tại xã Mỹ Phước. Tìm hiểu hiện trạng sản xuất lúa tại xã từ năm 2003 đến năm 2005. Phân tích chỉ phí sản xuất giếng lúa thường và đánh giá kết quá - hiệu quả của giống lúa thường. Phân tích chỉ phí sản xuất giống lúa OM 1723 và đánh giá kết quả - hiệu quả của giống lúa OM 1723 tại địa phương.
So sánh kết quả và hiệu quả giữa 2 giống lúa trên và nêu các ưu, nhược điểm của từng loại lúa. Nêu ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dan tại xã Mỹ Phước.5 Chương 5: Kết Luận Và Kiến Nghị. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm nông hộ, kinh tế hộ và tầm quan trọng của nông hộ Khái niệm nông hô. Hoạt động kinh tế chủ yếu của nước ta là nông nghiệp thì hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chính, hầu hết các nhà nghiên cứu nông nghiệp nông thôn và xã hội học nông thôn quan tâm.
Định nghĩa xoay quanh hộ nông dan về cơ bản thống nhất rằng: “Hộ nông dân là don vị kinh té cơ sở và được xã hội thừa nhận ” sản xuất nông nghiệp tại nông thôn. Khái niêm kinh tế hộ. Kinh tế hộ là mô hình kinh tế phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất Nông - Lâm — Ngư nghiệp. Nông thôn còn là thị trường tiêu thụ sản phẩm quan trọng vì dân cư với tỷ trọng khá cao trên 70% so với tổng dân số cả nước.
Hơn nữa, hộ nông dân và xã hội nông thôn còn là nguồn cung cấp lao động đồi dào để phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ góp phần phát triển nông thôn và phát triển đất nước theo hướng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa. Kinh tế hộ thường có quy mô sản xuất không lớn, tận dụng khá tốt điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lợi khác để phát triển sản xuất. Trong canh tác đã năng động tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từng bước vươn lên thích nghỉ với sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trường. Song, di quy mô sản xuất nhỏ, lại thiếu liên kết hợp tác sản xuất nên hàng hoá không đủ, thiếu tính đồng đều về năng suất và chất lượng nên khả năng cạnh tranh có hạn.
Vì thế, chúng ta cần có những chủ trương chính sách phù hợp của nhà nước để tạo công ăn việc làm và có nhiều mô hình kinh tế hợp tác phù hợp để thu hút các hộ nông dân tự nguyện tham gia. mm ee SS Tầm quan trong của nông hô và kinh tế hô. Chúng ta biết rằng, nghiên cứu kinh tế nông thôn là nghiên cứu mọi hoạt động sản xuất kinh tế diễn ra ở nông thôn như: sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và các địch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp. Hoạt động kinh tế ở nông thôn rất đa dạng và phong phú, gắn với nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nông hộ, kinh tế trang trại, kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác.
Thực tế, kinh tế nông thôn chiếm ưu thế về tỷ trọng và quy mô đóng góp sản phẩm cho xã hội nông thôn nói riêng và cho nhu cầu toàn xã hội nói chung. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam chi ra rằng dé phát triển nông thôn cần quan tâm trước tiên đến phát triển kính tế nông thôn mà đặc biệt chú trọng đến kinh tế nông hộ.2 Vai trò của kỹ thuật sản xuất nông nghiệp đối với đời sống người dân Trong sản xuất nông nghiệp, yếu tố giống ảnh hướng lớn đến năng suất của lúa tuy nhiên các yếu tố khác như hệ thống các biện pháp kỹ thuật canh tác, phân bón, thời tiết đều ảnh hưởng ở mức độ khác nhau đối với chất lượng thương phẩm của gạo. Các giống lúa địa phương thì hầu hết người dân không chú trọng đến kỹ thuật canh tác mà chủ yếu chỉ sản xuất dựa trên kinh nghiệm của bản thân là chính. Vì thế, hầu hết những hộ trồng giống lúa địa phương thường có năng suất rất thấp và sản lượng không cao, từ đó cũng ảnh hưởng đến điều kiện sống của người nông dân.
Tuy nhiên, ở Việt Nam khi sự chuyên đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi đang diễn ra rõ rệt làm cho nhu cầu chuyến đổi giống lúa mới càng cao. Trồng giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác hợp lý bảo đảm chất lượng và hương vị của các giống lúa. Kỹ thuật san xuất, công nghệ sau thu hoạch.là những biện pháp quan trọng đề nâng cao chất lượng lúa gạo nói chung và đặc biệt là chất lượng xay xát của gạo xuât khâu.3 Hiện trang san xuất và điều kiện để áp dụng kỹ thuật mới Năm 2005 là năm dat thang lợi trong sản xuất lương thực của xã Mỹ Phước. Tổng diện tích gieo trồng của xã là 7.840ha/năm, năng suất bình quân là 6,53 tấn/ha, sản lượng đạt 51.
Với xu hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của xã Mỹ Phước thì việc áp dụng kỹ thuật mới để nâng cao năng suất và phẩm chất của lúa gạo cao hơn nữa. Tuy nhiên, vì xã mới được tách ra từ cuối năm 2002 nên công tác quản lý cũng khó khăn, tuy nhiên xã Mỹ Phước có nhiều điều kiện thuận lợi để áp dụng những kỹ thuật mới. Xã đang thực hiện chương trình nhân giống cấp có xác nhận của Trung tâm Khuyến Nông Kiên Giang đã triển khai được Sha tại ấp Phước Hảo. Ngoài ra, các nhân viên khuyến nông xã đã kết hợp với trạm Bảo vệ thực vật, Trạm khuyến nông huyện Hòn Đất tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân được 6 lần với 195 người tham gia.
Như vậy với các điều kiện thuận lợi như đã nêu thì việc phát triển sản xuất nông nghiệp ở xã Mỹ Phước là điều hoàn toàn có thể. Tuy nhiên, trình độ của người dân vẫn còn thấp cho nên việc truyền đạt lại kỹ thuật cũng gặp khó khăn. Đó là một trong những khó khăn vẫn còn tồn tại gây trở ngại cho việc phát triển cho việc sản xuất lương thực của xã Mỹ Phước.4 Khái quát kỹ thuật canh tác, giới thiệu chung về giống lúa OM 1723 và đặc tính cơ bản của một số giống khác đang canh tác tại xã Mỹ Phước. Khái quát kỹ thuật canh tác.
- Chọn giống: Đây là yếu tố quyết định đến năng suất và phẩm chất lúa, muốn sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, giống chọn phải đảm bảo yêu cầu: Ngắn ngày, năng suất cao. Phẩm chất gạo tốt đạt tiêu chuẩn xuất khâu. Kháng được các loại sâu bệnh chính như: rầy nâu, cháy lá, đốm van. Phù hợp với điều kiện canh tác ở địa phương.
Độ thuần chuẩn cao, tỷ lệ nay mam >95%. Không lẫn hat lúa cỏ, hạt cỏ đại. - Thời vụ: nông dân thường canh tác 2 vu - Vu Đông Xuân: Gieo sa vào giữa tháng 10 - 11 dương lịch. Thu hoạch vào cuối tháng 1-2 dương lịch (trước hoặc sau tết Nguyên Đán).
Vụ Hè Thu: Gieo sạ vào đầu tháng 5 - 6 đương lịch. Thu hoạch vào cuối tháng 8 - 9 dương lịch. - Kỹ thuật canh tác: khâu canh tác có các bước co bản Làm đất: cày, xới trước khi gieo sạ, tạo mặt bằng đồng ruộng tốt và hệ thống mương rãnh để điều chỉnh mực nước, khống chế cỏ đại và giúp lúa đẻ - nhánh tốt. Nước: cung cấp đầy đủ cho ruộng lúa nhất là giai đoạn từ làm đòng đến trỗ.
Tháo nước cạn trước khi thu hoạch từ 7 - 10 ngày. Mật độ sa: chỉ nên sa 120 kg giống/ha vừa đủ thưa dé lúa đẻ nhánh tốt. Ngâm ủ giống: nên ngâm 36 giờ và ủ 24 - 36 giờ trước khi gieo sạ. Gieo sạ: sạ kéo hàng và sạ vào buổi chiều mát.
Bón phân: cần bón đủ Urê có thể bón theo công thức sau: Lần 1 (7 - 10 ngày sau sạ) 50 kg Urê + 50 kg DAP/ha. Lần 2 (17 - 20 ngày sau sạ) 60 kg Urê + 50 kg DAP/ha. Lần 3 (40 - 45 ngày sau sa) 50 kg Uré + 50 kg Kali/ha. Phòng trừ có dại bằng các biện pháp Giống sạch, không lẫn hạt cỏ dại.
Phải làm đất kỹ, mặt ruộng phải làm phẳng sẽ giữ nước tốt. Làm bằng tay. Dùng thuốc hoá học. : = Phòng trừ sâu bệnh: Ap dung chương trình IPM để phòng trừ.
; Dùng thuốc hoá học là biện pháp cuối cùng để phòng trừ khi các biện pháp không hiệu quả. - Qui trinh chung trong thu hoach Cắt ——» Phơi mớ trên ruộng ———» bỏ + gom + vận chuyển ——> đập, làm sạch bằng tay hay máy. - Bảo quan lúa sau thu hoạch Phơi trên nền đất với dụng cụ thô sơ như lưới phơi lúa hoặc phơi bằng nền xi măng. Phơi bằng sân nền như thế thì đảm bảo việc thoát nước nhưng khi có mưa thì phải ding cao su đậy kín.
Như vậy, việc phơi trên nền mất nhiều thời gian, công sức lao động của nông dân và chất lượng gạo sẽ không còn phẩm chất tốt nếu lúa bị mắc mưa. Nhưng phơi trên nền có ưu điểm: chỉ phí thấp, phụ thuộc nhiều vao thời tiết vì không thể phơi lúc trời mưa, chỉ thích hợp với gia đình có diện tích canh tác ít và điều kiện bảo quản không thích hợp cho vụ Hè Thu, chỉ thích hợp cho vụ Đông Xuân. Thường thì người dân đi sấy thuê ở nhà máy hoặc một hộ nào khác, sấy sẽ đảm bảo chất lượng lúa khi gặp trời mưa đầm ở vụ Hè Thu.