Chương 1: Dat vấn đề. Chương này nêu lên sự cần thiết của đề tài, mục đích, ý nghĩa và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Trình bày một số khái niệm liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, các chỉ tiêu, công thức tính toán và phương pháp phân tích xử lý số liệu như thé nao.
Chương 3: Tổng quan. Mô tả những đặc trưng cơ bản về điều kiên tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh An Giang. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Đánh giá các kết quả, hiệu quả của chương trình 3 giảm 3 tăng đã thực hiện và thành quả đạt được đối với cây lúa trong giai đoạn 2001 — 2005.
Tình hình tham gia sản xuất lúa của nông hệ và sau khi tham gia chương trình. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất lúa khi áp dụng tiến bộ và các giải pháp nhân rộng chương trình cho cây ‘Tua. Chương 5: Kết luận và kiến nghị CHƯƠNG 2 CƠ SO LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CUU 2. Các khái niệm về quy luật cân bằng sinh thái đồng ruộng Định nghĩa IPM.
IPM là 3 chữ viết tắt của từ Tiếng Anh: Integrated Pest Management, có nghĩa là “quản lý dịch hại tổng hợp cây trồng”. Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về quán lý dịch hại tổng hợp. Theo định nghĩa của nhóm chuyên gia t6 chức lương thực — nông nghiệp quốc tế (FAO) thì “quản lý dịch hại tổng hợp là một hệ thống quản lý dịch hại cây trồng bao gồm việc sử đụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp dé duy trì mật độ của các loài dich hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế trong những điều kiện cụ thể của môi trường và những biến động quan thé của các loài dich hại”. Quản lý dịch hại tổng hợp cũng có thể định nghĩa là “một hệ thống các biện pháp phòng trừ hợp lý về kinh tế và vững bền, dựa trên các biện pháp trồng trọt, sinh học, đi truyền, chọn giống và hóa học nhằm đạt sản lượng cây trồng cao nhất và tác hại đến môi trường ít nhất”.
“Quản lý dịch hại tổng hợp là một chiến lược nhằm làm cho các biện pháp phòng trừ sâu bệnh có hiệu quả lâu dai về mặt kinh tế, kỹ thuật, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi sinh. Chiến lược này không loại trừ hóa chất nông nghiệp mà cũng không dựa hẳn vào hữu cơ tự nhiên. Đó là một tổng hợp của sử dụng các giống kháng bền vững kết hợp các biện pháp canh tác, sinh học và kể cả biện pháp hóa học khi cần thiết”. Qua các định nghĩa trên có thê hiểu IPM là phương pháp phòng trừ dịch hại dựa trên cơ sở của quy luật cân bằng sinh thái đồng ruộng.
Nội đung của phương pháp là áp dụng phối hợp nhiều biện pháp một cách hợp lý để giảm mật số dich hại xuống dưới mức có thé gây hại cho cây trồng, dam bảo năng suất cao và hạn chế ô nhiễm môi trường sống. IPM là sự tổng hợp hài hòa một số biện pháp phòng trừ dịch hại sẵn có, nhờ đó mật số dịch hại không gia tăng, thuốc BVTV và những can thiệp khác của con người được điều chỉnh ở mức có ý nghĩa về kinh tế, môi trường và an toàn sức khỏe con người. [PM nhấn mạnh đến việc chăm sóc cây trồng khỏe với sự tác động ít nhất đến sự cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, day mạnh việc phòng trừ dịch hại theo cơ chế tự nhiên. IPM là một hệ thống các biện pháp trồng trọt, sinh học, di truyền chọn giống và hóa học nhằm đạt sản lượng cây trồng cao nhất và ít tác hại môi trường.
Định nghĩa FPR. FPR là 3 chữ viết tắt của từ Tiếng Anh: Farmer Participatory Research có nghĩa là nông dân tham gia thí nghiệm 40 ngày đầu sau khi sạ không dùng thuốc trừ sâu. Trước khi bắt tay thực hiện chương trình 3G3T, các nhà khoa học đã tiến hành điều tra hiện trang sản xuất nông nghiệp ở 2 Huyện điểm là Ô Môn và Vi Thúy. Kết qua cho thấy có đến 85% nông dân phun thuốc trừ sâu trong giai đoạn 40 ngày sau sạ, bón thừa đạm, sạ dày.
Bằng những kết quả thực tiễn qua các công trình nghiên cứu cho thấy rằng: phun thuốc trừ sâu sớm là không cần thiết. Vì cây lúa hoàn toàn có khả năng đền bù cho những lá, chéi bị mất ở giai đoạn lúa đẻ nhánh mà không làm giảm năng suất. Sâu cuốn lá không phải là địch hại chính, nên việc phun thuốc trừ sâu sớm đã tiêu điệt các quần thể ký sinh thiên địch trong ruộng lúa, do vậy đễ bộc phát rầy nâu. Xuất phát từ thực tế đó chương trình “nông dân không phun thuốc trừ sâu sớm trong vòng 0-40 ngày sau sạ” đã ra đời nhằm giúp nông dân từ bỏ thói quen phun thuốc trừ sâu sớm.
Tổng quan chương trình “3 giảm, 3 tăng” Tai sao giảm giống. So với tập quán của bà con nông dân ở ĐBSCL nói chung và ở An Giang nói riêng hiện đang sạ với mật độ 200 kg/ha trong khi khuyến cáo sạ thưa với mật độ 80 — 120 kg là một bước đột phá về kỹ thuật thâm canh lúa dé dat năng suất và hiệu quả cao hơn so với kiểu cũ. Trong trường hợp sạ quá dày (200 kg/ha hoặc dày hơn) cây lúa sẽ chen chúc nhau vống lên cao (lo phát triển thân lá) để giành lấy ánh sáng, nước và dinh dưỡng (phân bón) làm cho thân lá xum xuê nhưng bông hạt lại kém, nhiều sâu bệnh ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng lúa. Tại sao giảm phân Dam.
Dam là tên gọi chung của các loại phân đơn cung cấp chất đạm cho cây. Bón đạm với liều lượng thích hợp sẽ thúc đây sự tăng trưởng của cây, giúp cho chồi, cành lá phát triển, làm lá có kích thước to hơn, xanh, quang hợp mạnh và làm tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên nếu bón thừa đạm cây cũng sẽ lớn nhanh, đẻ nhánh nhiều, lúa phát triển xanh tốt thu hút dịch hại, tăng mức độ nhiễm bệnh do màu sắc xanh đậm của lá thu hút sâu hại, nắm bệnh và vi khuẩn đễ xâm nhập. Tại sao giảm thuốc hóa học.
Hiện nay việc sử dụng thuốc trừ sâu phun xịt cho lúa được nông dân sử dụng rộng rãi và phố biến. Đây là biện pháp thích hợp dé phòng trừ và tiêu diệt sâu hại cây trồng. Tuy nhiên khi phun thuốc cần sử dụng đúng liều lượng quy định và thời gian thích hợp. Nếu phun thuốc hoá học nhiều không những gây lãng phí mà còn ảnh hưởng đến năng suất cây trồng cũng như môi trường sinh thái và sức khoẻ con người.
Cơ sở khoa học của biện pháp tông hợp “3 giảm, 3 tang” trong canh tác lúa cao sản ở ĐBSCL. Mối quan hệ hữu cơ của biện pháp 3G3T trong thâm canh lúa cao san là vấn đề khá phức tạp mà đến nay các nhà khoa học trong và ngoài nước vẫn tiếp tục nghiên cứu nhằm đạt năng suất tối đa, trong môi trường canh tác bền vững và nhất là giảm giá thành sản xuất lúa. Trước hết giảm lượng giống gieo sạ đóng vai trò trung tâm của biện pháp “3 giảm”. Ruộng lúa sa thưa có số chi, bông dai, số hạt chắc trên bông nhiều và đây là những yếu tố chính làm tăng năng suất lúa.
Trong khi đó ruộng sa thưa cây lúa cần ít phân hơn, gốc rạ cứng, ít đỗ ngã, ít nhiễm sâu bệnh. Thứ hai, giảm lượng phân đạm hợp lý trên cơ sở bón đủ và cân đối phân lân, kali. Bón nhiều đạm làm cho tế bào thủy không của cây lúa phát triển to hơn bình thường, thân bị xốp, dễ bị sâu đục thân tấn công, thu hút bướm, sâu cuốn lá đến đẻ trứng và gây hại. Hơn nữa ruộng bón nhiều phân đạm, sạ day làm cho cây lúa đễ đỗ ngã, gia tăng mức độ ô nhiễm bệnh đạo ôn.
Điều này sẽ làm gia tăng lượng thuốc BVTV, tăng chỉ phí và ô nhiễm môi trường sống. Thứ ba, giảm phun thuốc trừ sâu trong giai đoạn cây lúa từ 0-40 ngày tuổi sau sa sẽ giữ được sự cân bằng sinh thái ruộng ngay từ đầu vụ. Phát huy lợi thế của hệ sinh thái tự nhiên để khống chế sâu hại suốt vụ. giúp nông dân không phải phun thuốc trừ sâu thường xuyên.
Nhằm giảm chi phí, tăng năng suất và chất lượng lúa gạo. Sơ Đồ Mỗi Quan Hệ Hữu Cơ của Biện Pháp “3 Giảm, 3 Tăng” Tăng 6— — sế— Giảm Phân đạm Nguồn tin: Cục BVTV An Giang Các biên pháp kỹ thuat trong chương trinh “3 giảm, 3 tăng”. - Giảm lượng giống gieo sa: Bang cách sa hàng hoặc sa thưa hợp lý. Sa hàng: 70 - 100kg/ha Sạ thưa: 100 - 120 kg/ha Giảm lượng giống gieo sạ: Yêu cầu chất lượng hạt giống phải tốt: Độ thuần cao (99,75), Tỷ lệ nảy mầm cao (80%) và sức nảy mầm tốt.
Do đó cần dùng giống có phẩm cấp. Giảm giống: Yêu cầu cây mạ phải khỏe từ đầu: Trước khi gieo cần phải xử lý hạt giống để phòng trừ sâu bệnh bằng Actara hoặc Regent. Chuẩn bị đất (cày trục, mặt băng đồng ruộng) tốt, phòng trừ cỏ đại tốt, bón phân sớm và đầy đủ và có chế độ nước hợp lý. Giảm phân bón: Không bón thừa phân Đạm (N) Nguyên tắc giảm N: Nếu lúa bị ngộ độc: cần phải giải độc trước (nếu có) rồi mới bón phân N sau.
Cày ải, phơi đất (khoáng hóa tốt), tạo mặt bằng ruộng tốt. Bón phân khi mực nước từ 3-5 em sẽ ít mất phân. Xiết nước giữa vụ, rễ sẽ phát triển mạnh nên hấp thu phân bón tốt hơn. Bón phân theo nhu cầu cây lúa cũng là nguyên tắc quan trọng khi bón phân cho lúa Giảm thuốc trừ sâu: Không lạm dụng nông được bằng cách không phun thuốc trừ sâu sớm trong vòng 40 ngày sau sa vì trong giai đoạn này cây lúa có khả năng tự bù đắp những thiệt hại do sâu gây ra.
Và khi cần phun thuốc phải áp đụng biện pháp 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV: chon đúng thuốc - đúng đối tượng sâu bệnh, sit dụng đúng liều lượng - nồng độ, đúng lúc và đúng cách (đúng kỹ thuật). Không xit ngừa sâu hại, áp dung IPM, FPR. Tăng năng suất: Sa thưa, cây lúa khỏe sử dụng có hiéu quả ánh sáng, phân bón, nước. Phát huy được tiềm năng năng suất của giếng.
Sa thưa ít đỗ ngã, tăng số chồi hữu hiệu, bông to, ít lép, có điều kiện chăm sóc ruộng lúa tốt hơn. Bón phân cân đối, hợp lý không những giúp cây lúa phát triển tốt, cho năng suất cao mà còn tạo điều kiện cho thiên địch có lợi phát triển, hạn chế được sâu bệnh.