Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất lúa nói riêng, ngoài điều kiện thời tiết khí hậu thì việc áp dụng các biện kỹ thuật hợp lý là yếu tố quan trọng, quyết định đến năng suất và chất lượng của nông sản. Trong thực tiễn sản xuất lúa ở nhiều địa phương cho thấy: Nếu có cơ cấu giống phù hợp với điều kiện tự nhiên, cùng với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất sẽ làm tăng năng suất từ 15 - 20%. Bởi lẽ, năng suất lúa được quyết định bởi các yếu tố cấu thành năng suất như: Số bông/m2 (N), số hạt/bông (n), tỷ lệ hạt chắc (F) và khối lượng 1000 hạt (W).
Mối quan hệ phụ thuộc trên có thể biểu diễn bằng công thức: Y= N * n * W * F * 10-5 (tấn/ha) Các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan mật thiết với nhau. Số bông/m2 phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ nhánh, mật độ cấy. Khi cây đẻ nhánh khỏe, nhiều dảnh thì số bông tăng. Khi số bông/m2 tăng quá cao thì bông lúa ngắn và bé đi, số hạt/bông giảm, tỷ lệ hạt chắc/bông và khối lượng hạt cũng giảm.
Để đạt được năng suất cao cần điều khiển cho lúa có số bông tối ưu, đảm bảo số hạt/bông nhiều, tỷ lệ hạt chắc cao và khối lượng hạt lớn (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14]. - Yếu tố ảnh hưởng đến số bông/m2: Số bông/m2 được quyết định bởi 2 yếu tố chủ yếu là mật độ cấy và tỷ lệ nhánh đẻ (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14]. Muốn cho lúa đẻ nhánh tốt thì ngoài cấy mạ khỏe, đúng thời vụ, việc bón phân thúc đẻ và thúc đòng ảnh hưởng có tính chất quyết định. Thời kỳ đẻ nhánh cần được bón đủ đạm, lân và kali; thời kỳ làm đòng cần bón đạm và kali (Lê Vĩnh Thảo, 2004) [26].
- Yếu tố ảnh hưởng đến số hạt/bông: Số hạt/bông là do số lượng hoa phân hóa và số lượng hoa thoái hóa quyết định (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14]. Tỷ lệ hoa phân hóa liên quan chặt đến chế độ chăm sóc, trong đó phân n 5 đạm có vai trò quan trọng làm tăng số lượng hoa phân hóa, giảm số lượng hoa thoái hóa, tăng kích thước vỏ trấu. Bón thúc đạm khi bắt đầu phân hóa đòng còn làm tăng quá trình phân hóa gié. Số gié cấp I, đặc biệt là số gié cấp II nhiều thì số hoa/bông cũng nhiều, đây là điều kiện cần thiết đảm bảo số hạt/bông lớn (Nguyễn Văn Hoan, 2006 ) [14].
- Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ hạt chắc: Tỷ lệ hạt chắc phụ thuộc vào số hạt/bông, nếu số hạt/bông quá lớn thì tỷ lệ hạt chắc thấp. Ngoài ra tỷ lệ hạt chắc còn phụ thuộc vào lượng tinh bột tích lũy trong cây và đặc điểm giải phẫu của cây lúa (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14]. Trong các nguyên tố đa lượng, đạm và kali ảnh hưởng mạnh đến tỷ lệ hạt chắc vì đạm làm tăng khả năng quang hợp và quá trình tổng hợp chất hữu cơ, kali thúc đẩy sự vận chuyển chất khô về cơ quan tích lũy (Yang và cs. - Yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng hạt: Khối lượng hạt phụ thuộc vào kích thước hạt và kích thước của nội nhũ.
Vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi và chế độ dinh dưỡng, đặc biệt là dinh dưỡng đạm, kali phù hợp thì nhận được kích thước hạt lớn, sau đó tích lũy được nhiều tinh bột thì khối lượng hạt thóc cao. Sau trỗ nếu thiếu ánh sáng, dinh dưỡng kém, đặc biệt là thiếu kali và quá trình vận chuyển chất khô vào hạt bị cản trở làm giảm khối lượng hạt (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [14]. Như vậy để ruộng lúa đạt năng suất cao cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, trong đó nghiên cứu để xác định mật độ cấy và công thức bón phân hợp lý đối với từng giống lúa đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có khoảng 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trồng lúa với diện tích khoảng 166. Châu Á là châu lục có diện tích trồng lúa lớn nhất, chiếm tới 88% tổng diện tích trồng lúa trên thế giới, châu Mỹ chiếm 4,1%, châu Phi chiếm 6,5% và châu Úc chiếm 1,4%. Biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên toàn thế giới trong vài n 6 thập kỷ gần đây thể hiện qua Bảng 2. Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới giai đoạn 1970 - 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 1970 132.1 ta thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa qua các năm có xu hướng tăng lên.
Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90 của thế kỷ XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI. Về năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 70, 80. Đến thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,51 tạ/ha năm 1970 lên 44,86 tạ/ha vào năm 2013. Điều này cho thấy “cuộc Cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, biện pháp kỹ thuật tiên tiến và đầu tư phân bón để thâm canh được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể.
Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo của một số nước đứng đầu thế giới năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Tên nước ( nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Ấn Độ 43.758 (Nguồn: FAO STAT, 2014) Hiện nay, châu Á có diện tích lúa cao nhất với 146,17 triệu ha, sản lượng 674,7 triệu tấn. Các nước có sản lượng lúa cao nhất đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản. Tuy nhiên, năng suất lúa cao nhất lại tập trung ở các nước phát triển ở châu Úc, châu Âu… Nước có năng suất lúa cao nhất là Australia 102,17 tạ/ha, Ai Cập 96,42 tạ/ha, Trung Quốc 67,24 tạ/ha, Mỹ 86,23 tạ/ha, Nhật Bản 67,28 tạ/ha. Năm 2013, ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới đó là Ấn Độ (9,61 triệu tấn), Thái Lan (6,79 triệu tấn) và Việt Nam (6,74 triệu tấn).2 cho thấy: Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới với diện tích là 43.500 nghìn ha (năm 2013), sản lượng lúa của Ấn Độ là 159.200 nghìn tấn, chiếm 21,36% tổng sản lượng của thế giới.
Năm 2013, Ấn Độ là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, xuất n 8 khẩu gạo của Ấn Độ thất thường. Gạo Ấn Độ xuất khẩu chủ yếu là gạo basmati. Theo dự báo của USDA trong thập kỷ tới, dự báo xuất khẩu gạo Ấn Độ sẽ tăng trưởng hơn 30%, thị phần xuất khẩu gạo của Ấn Độ sẽ tăng từ 16% năm 2007/08 lên khoảng 17% đến năm 2016/17.
Trung Quốc có diện tích trồng lúa đứng thứ 2 thế giới. Trong vài thập niên gần đây, Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân năm 2013 đạt 67,24 tạ/ha, sản lượng đạt 205. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích canh tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ và phân bố không đều. Đây cũng là trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc.
Trung Quốc xuất khẩu trung bình 2,6 triệu tấn gạo trong giai đoạn 1998 - 2003, từ đó xuất khẩu gạo của Trung Quốc tiếp tục giữ ổn định ở mức 1 triệu tấn gạo. Khối lượng gạo xuất khẩu của Trung Quốc giảm từ năm 2004 do diện tích lúa thu hẹp lại dẫn đến nguồn cung trong nước hạn chế. Diện tích sản xuất lúa được dự báo là giảm nhẹ, bù lại năng suất tăng lên. Mức tiêu dùng giảm nhẹ bù cho dân số tăng.
Trung Quốc xuất khẩu gạo chất lượng cao, gạo hạt ngắn và trung bình tới thị trường Bắc Á và gạo chất lượng thấp, hạt dài tới thị trường Sahara Châu Phi và một số thị trường có thu nhập thấp của Châu Á. Năm 2013, Thái Lan là nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo, sau Ấn Độ. Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa thích hợp cho phát triển cây lúa nước. Vì vậy, cây lúa là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan với diện tích năm 2013 là 12.373 nghìn ha, năng suất bình quân 31,34 tạ/ha, sản lượng 38.
Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực. Nhiệm vụ của các cơ sở n 9 này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giống lúa tốt phục vụ cho nội tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ. Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất. Điều này giải thích tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam.
Theo hướng này, Thái Lan đã tạo ra các giống lúa chất lượng nổi tiếng thế giới, trong đó phải kể đến các giống như: Khao đomali, Jasmin (Hương nhài)… Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (2011)[3] dự báo trong giai đoạn 2007 - 2017, các nước sản xuất gạo ở Châu Á sẽ tiếp tục là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chính của thế giới: Bao gồm Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ. Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Việt Nam xuất khẩu gạo hạt dài là chủ yếu. Thái Lan xuất khẩu gạo thơm, gạo hạt dài đặc biệt và gạo dính.
Một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Saharan Châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil.