Đặt vấn đề Đã hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi Mới, phát triển xây dựng đất nước thực sự đáng ghi nhận. Nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể về mặt kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống, tuy nhiên bên cạnh đó còn những vấn đề tồn tại chưa được giải quyết triệt để gây nhức nhối dư luận, đặt ra cho các nhà quản lý bài toán cần lời giải. Một trong số đó là an toàn xã hội nói chung và an toàn xã hội đô thị nói riêng trong bối cảnh biến đổi kinh tế - xã hội diễn ra mạnh mẽ, nhanh chóng như vũ bão trong thời đại mới. Đổi mới kinh tế và chính trị năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam từ Một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình khá, tính đến năm 2019 GDP đầu người đang ở mức 2.700 USD, với hơn 45 triệu người thoát nghèo.
Tiếp theo, Việt Nam đang chứng kiến sự bùng nổ dân số một cách chóng mặt khi tăng lên 96,5 tr dân (2019) kéo theo đó nhiều cơ hội cũng như thách thức về nhiều mặt của xã hội. (World Bank Vietnam, 2021) Trong những năm qua, khu vực đô thị ngày càng thể hiện được vai trò tiềm năng đầu tàu dẫn dắt về phát triển kinh tế - xã hội của vùng và cả nước, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, chiếm tỉ trọng chi phối trong ngân sách, xuất khẩu, sản xuất công nghiệp. Giai đoạn 2011 - 2020, Việt Nam đã chú trọng phát triển các đô thị theo hướng đáp ứng những yêu cầu, xu thế thời đại về nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và đô thị thông minh. Điều này được thể hiện trong các chính sách về phát triển đô thị.
Việc xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch chung giúp các đô thị có định hướng phát triển tốt hơn, công tác quản lý kiến trúc đô thị được quan tâm; chương trình phát triển đô thị được triển khai tại một số đô thị lớn, như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng,. góp phần làm cho các đô thị có diện mạo khang trang, sạch sẽ hơn, hệ thống hạ tầng đầy đủ, tiện nghi hơn. Sự hình thành hàng trăm khu đô thị mới với thiết kế hiện đại, đầy đủ tiện ích đã góp phần tạo điểm 1 nhấn về cảnh quan kiến trúc cho các đô thị, tạo các nơi ở chất lượng cao cho cộng đồng dân cư. (Vũ Trọng Lâm, Nguyễn Thị Diễm Hằng, 2021) Cùng với đó, các dịch vụ ở đô thị được thực hiện càng ngày càng tốt hơn.
Chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng được nâng cao, cả về chất lượng, số lượng, đa dạng hoá các loại hình, hàng loạt tuyến và xe buýt được đầu tư chạy điện, kết hợp thêm tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, góp phần giảm thải khí thải nhà kính, giảm ùn tắc giao thông, làm đẹp và tạo nên một cuộc sống xanh – tiện ích – văn minh. Bên cạnh đó, khu vực đô thị là nơi thuận lợi và tạo động lực phát triển cho khu vực nông thôn thông qua nhiều hình thức như: tạo ra hàng triệu việc làm mới, thu hút, quy tụ lao động các địa phương ở mọi trình độ; là nơi tiêu thụ chủ yếu hàng nông sản và các sản vật địa phương; cung cấp toàn bộ các dịch vụ giáo dục, y tế chất lượng cao không chỉ phục vụ cư dân đô thị, mà còn phục vụ khu vực nông thôn. Ngoài ra, đô thị còn có đóng góp lớn trong thực hiện các hoạt động an sinh xã hội, mà tiêu biểu là giảm nghèo quốc gia và có vai trò quan trọng trong việc liên kết với các vùng nông thôn để tạo thế trận an ninh - quốc phòng. Nhìn sơ qua có thể thấy sự phát triển này là đáng khích lệ.
Bên cạnh những mặt tích cực đáng ghi nhận thì còn đó những điểm hạn chế. Không gian đô thị ngày càng mở rộng cả về quy mô diện tích lẫn quy mô dân cư với tốc độ nhanh nhưng đều có hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển, trình độ dân trí chưa cao, các loại hình kinh tế vẫn nhỏ lẻ, manh mún; người dân vẫn duy trì văn hóa, sinh hoạt theo truyền thống nông thôn, chưa thích ứng được với cuộc sống đô thị. Cùng với đó, nhiều đô thị có tốc độ tăng dân số cao, gây áp lực lớn đến hệ thống kết cấu hạ tầng, hệ thống y tế và an sinh xã hội làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ vận tải và y tế công cộng, đất giao thông trong đô thị tỷ lệ còn thấp và năng lực vận tải công cộng chưa đủ đáp ứng nhu cầu. Nhiều đô thị, nhất là các khu đô thị mới thiếu cây xanh, công viên, mặt nước; thiếu trường học, trạm y tế, sân chơi cho trẻ em, người già và các đối tượng khác; kiến trúc khu vực đô thị và khu vực nông thôn còn lộn xộn, thiếu bản sắc theo vùng, miền và đặc trưng đô thị; kết nối hạ tầng giữa các đô thị và giữa đô thị trung tâm với các khu đô thị mới mở rộng, giữa đô thị với các vùng nông thôn còn nhiều yếu kém.
Thế nên những mặt hạn 2 chế này gây nên sự “mất an toàn xã hội” dấy lên nhiều nhức nhối như an toàn giao thông ở đô thị đáng báo động về số và lượng vụ, vệ sinh an toàn thực phẩm sạch đến mức độ đỏ cho người tiêu dùng, các việc làm lao động đang thiếu nhân lực chất lượng cao, cùng với đó là thách thức to lớn khi đối mặt với dịch Covid-19 đang chuyển biến phức tạp. Cho đến nay, tôi nhận thấy chưa có nhiều công trình nghiên cứu xã hội học nào phân tích tổng quát, lý giải đầy đủ cho vấn đề an toàn xã hội, đa phần chỉ dừng ở mức nêu thực trạng ở khía cạnh luật học, tâm lý học, dịch tễ học hay tội phạm học ở mức đơn nhất. Vì những lý do nêu trên ảnh hưởng trực tiếp tới cộng đồng tôi đang sinh sống nên tôi quyết định đi vào nghiên cứu đề tài “Nhận diện an toàn xã hội ở cộng đồng đô thị hiện nay” để trả lời và làm rõ cho câu hỏi: Thực trạng an toàn xã hội ở cộng đồng đô thị diễn ra như thế nào? Do đề tài quá rộng nên chuyên tâm tập trung vào 3 vấn đề chính cốt lõi của cộng đồng đô thị đó là An toàn giao thông, An toàn thực phẩm, An toàn lao động & dịch bệnh, Cách nhận diện và đánh giá xem cộng đồng này có thực sự an toàn hay mất an toàn ở điểm nào trong 3 vấn đề trên? Nâng cao nhận thức và giảm thiểu rủi ro cho người dân sống trong cộng đồng. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Nhận diện chung về vấn đề an toàn xã hội ở cộng đồng đô thị hiện nay qua khảo sát tại phường Bồ Đề, quận Long Biên, tp Hà Nội 1.2 Mục tiêu cụ thể - Khái quát tình hình kinh tế xã hội An toàn xã hội ở cộng đồng đô thị hiện nay thông qua khảo sát tại địa bàn phường Bồ Đề, quận Long Biên, Tp Hà Nội. - Nhận diện ý kiến của người dân về các khía cạnh an toàn xã hội ở cộng đồng đô thị hiện nay qua khảo sát tại địa bàn phường Bồ Đề, quận Long Biên, tp Hà Nội. 3 - Đánh giá hệ quả về an toàn xã hội mang lại đối với cá nhân và cộng đồng đô thị hiện nay thông qua khảo sát tại địa bàn phường Bồ Đề, quận Long Biên, tp Hà Nội. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 1.Đối tượng nghiên cứu Nhận diện các khía cạnh An toàn xã hội trong cộng đồng đô thị hiện nay 1.
Khách thể nghiên cứu Người dân trong cộng đồng đô thị (nghiên cứu trường hợp tại phường Bồ Đề, quận Long Biên, tp Hà Nội) 1. Phạm vi nghiên cứu a) Phạm vi nội dung Trong đề tài này do điều kiện và thời gian có hạn nên chỉ tập trung nghiên cứu trong 3 khía cạnh về an toàn xã hội như sau: An toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn lao động & dịch bệnh. b) Phạm vi không gian Phường Bồ Đề, quận Long Biên, tp Hà Nội. c) Phạm vi thời gian Thu thâp thông tin thứ cấp, số liệu từ 2011 đến năm 2021.
Điều tra, khảo sát thực tiễn 2021 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các nghiên cứu nền cho đề tài nghiên cứu 2. Lý thuyết sinh thái học xã hội của Robert Park Robert Park (1864 – 1944) là một nhà xã hội học đô thị người Mỹ. Một trong những người đóng vai trò hàng đầu trong sự phát triển của trường phái Chicago.
Ông được biết tới với các nghiên cứu về sinh thái con người, quan hệ chủng tộc, di cư của con người, sự đồng hoá văn hoá, các phong trào xã hội và sự vô tổ chức xã hội. Năm 1920 Park khởi đầu bắt nguồn từ sinh thái học sinh học, trường phái này đặc biệt quan tâm đến các điều kiện phát triển của các thành phố lớn, sự hình thành và phát triển của các hệ dân cư đô thị, sự tách biệt nội bên trong họ về cách sử dụng không gian – xã hội, sự phân bố không gian của các hiện tượng “bệnh lý xã hội” như tội phạm, bệnh tâm thần, nạn mại dâm và các dạng đặc trưng cho tổ chức xã hội ở những khu nhà ở cách biệt. Trong đó Park đặt ra thuật ngữ sinh thái nhân văn, nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, xã hội và môi trường xây dựng của họ. Bản thân Park giải thích sinh thái học con người “về cơ bản là một nỗ lực để điều tra các quá trình cân bằng sinh học và cân bằng xã hội bị xáo trộn, sự chuyển đổi được thực hiện từ trật tự tương đối ổn định này sang trật tự khác” Park nhận thấy rằng nên tảng quan trọng nhất trong hệ thống sinh thái nhân văn của là ông khái niệm cạnh tranh, đó là đặc điểm chính của mức độ sinh tồn của sự sống.
Ông khẳng định rằng con người bị hạn chế ở một số khu vực khi cạnh tranh và sự hạn chế cạnh tranh này là điều cho phép để tồn tại khái niệm xã hội hiện đại của chúng ta, cạnh tranh sinh thái có thể được biểu hiện thông qua sự thống trị và kế thừa. Park tiếp tục củng cố sinh thái nhân văn bằng cách phát triển chương trình nghiên cứu đô thị cùng với Ernest W.