Phần mở đầu phải đƣợc sửa đổi để giá trị canary đƣợc đẩy vào ngăn xếp sau địa chỉ trả về. Mã phần kết phải đƣợc sửa đổi để kiểm tra xem giá trị canary có hợp lệ không.3 Định dạng tiêu đề IPv4 tiêu chuẩn 13 Nếu cùng một giá trị canary đƣợc sử dụng trong mọi chƣơng trình, thì mỗi khi thực hiện một lệnh gọi hàm, kẻ tấn công sẽ dễ dàng thực hiện các cuộc tấn công tràn bộ đệm. Để khởi động một cuộc tấn công vào hệ thống sử dụng cùng một giá trị canary cho mọi lệnh gọi hàm, kẻ tấn công chỉ cần đặt giá trị canary vào đúng vị trí trong dữ liệu đƣợc sử dụng để làm tràn bộ đệm. Việc kiểm tra canary trong phần kết của hàm sẽ vƣợt qua và do đó địa chỉ trả về sẽ chuyển sang mã độc hại của tin tặc.
Để khắc phục sự cố này, một giá trị canary ngẫu nhiên thƣờng đƣợc sử dụng. Một giá trị canary ngẫu nhiên đƣợc chọn khi thực thi và chỉ đƣợc sử dụng cho lần thực thi đó. Điều này có nghĩa là mỗi khi kẻ tấn công chạy mã có khả năng dễ bị tấn công, canary sẽ khác và do đó kẻ tấn công không thể sử dụng cuộc tấn công hoạt động với các giá trị canary cố định.6 Từ chối Trong một số tình huống, chủ sở hữu dữ liệu có thể không muốn thừa nhận quyền sở hữu dữ liệu để trốn tránh các hậu quả pháp lý. Ngƣời đó có thể lập luận rằng họ chƣa bao giờ gửi hoặc nhận dữ liệu đƣợc đề cập.
Từ chối rất đơn giản nếu dữ liệu chƣa đƣợc xác thực. Ngay cả khi dữ liệu đã đƣợc xác thực, việc từ chối vẫn có thể xảy ra khi các phƣơng pháp xác thực cơ bản hoặc các giao thức truyền thông có lỗ hổng. Chủ sở hữu của dữ liệu đƣợc xác thực có thể thuyết phục rằng: do sơ hở, bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng bịa đặt thông điệp và khiến nó giống nhƣ do anh ta tạo ra. Các thuật toán xác thực và mã hóa an toàn là những cơ chế hiệu quả để chống lại các cuộc tấn công từ chối 12.7 Xâm nhập Xâm nhập trong bảo mật mạng có nghĩa là ngƣời dùng bất hợp pháp, còn đƣợc gọi là kẻ xâm nhập, có quyền truy cập vào hệ thống máy tính của ngƣời khác.
Kẻ xâm nhập có thể biến máy tính của nạn nhân thành máy chủ của riêng mình, điều này có thể dẫn đến việc nạn nhân bị đánh cắp tài nguyên máy tính và băng thông 14 mạng. Kẻ đột nhập cũng có thể lấy cắp thông tin hữu ích nằm trong máy tính của nạn nhân. Những sơ hở về cấu hình, sai sót về giao thức và các tác dụng phụ của phần mềm đều có thể bị những kẻ xâm nhập khai thác. Việc mở các cổng TCP hoặc UDP không đƣợc mở là một lỗ hổng cấu hình phổ biến.
Các cổng TCP và UDP là điểm vào của các chƣơng trình ứng dụng mạng. Phát hiện xâm nhập là công nghệ phát hiện các sự cố xâm nhập. Đóng các cổng TCP và UDP có thể bị khai thác bởi những kẻ xâm nhập cũng có thể giúp giảm sự xâm nhập.8 Phân tích lƣu lƣợng Mục đích của phân tích lƣu lƣợng là xác định ai đang nói chuyện với ai bằng cách phân tích các gói IP. Ngay cả khi gói IP đƣợc mã hóa, tin tặc vẫn có thể nhận đƣợc thông tin hữu ích từ việc phân tích các tiêu đề IP.
Tiêu đề IP chứa địa chỉ IP nguồn và địa chỉ IP đích, cho biết ai đang gửi bản tin cho ai. Nếu nó (tức là gói TCP) không đƣợc mã hóa, thì kẻ tấn công có thể trích xuất đƣợc số cổng. Thông tin này có thể đƣợc sử dụng để tìm hiểu chƣơng trình ứng dụng nào đƣợc sử dụng để đọc bản tin. Khi chuẩn bị cho một sự kiện lớn, các cá nhân hoặc tổ chức có thể thƣờng xuyên trao đổi bản tin trƣớc khi sự kiện diễn ra.
Nếu bộ phân tích lƣu lƣợng biết đƣợc thông tin này từ việc phân tích các tiêu đề IP, tin tặc có thể kết luận rằng một sự kiện lớn nào đó sắp xảy ra. Cách tốt nhất để chống lại phân tích lƣu lƣợng là mã hóa các tiêu đề IP. Nhƣng một gói IP có tiêu đề IP đƣợc mã hóa không thể đƣợc chuyển đến đích. Do đó, một tiêu đề IP bản rõ phải đƣợc chèn vào trƣớc tiêu đề IP đƣợc mã hóa để phân phối.
Điều này có thể đƣợc thực hiện bằng cổng mạng. Cổng là một máy tính có mục đích đặc biệt đƣợc chia sẻ bởi nhiều ngƣời dùng trong mạng cục bộ. Nó có thể mã hóa gói IP của ngƣời dùng (bao gồm cả tiêu đề của nó) ở phía gửi, giải mã gói IP đƣợc 15 mã hóa ở phía nhận và chuyển tiếp nó đến địa chỉ MAC đích. Nếu không có bộ định tuyến nào khác giữa cổng bên gửi và máy tính của ngƣời gửi và không có bộ định tuyến nào khác giữa cổng bên nhận và máy tính của ngƣời nhận, thì phân tích lƣu lƣợng chỉ có thể tiết lộ rằng hai cổng đang nói chuyện với nhau, mà không thu đƣợc bất kỳ thông tin nào về việc ngƣời dùng nào đằng sau một cổng đang nói chuyện với ngƣời dùng nào đằng sau cổng kia.9 Tấn công từ chối dịch vụ Mục tiêu của các cuộc tấn công từ chối dịch vụ là chặn ngƣời dùng hợp pháp nhận các dịch vụ mà họ thƣờng có thể nhận đƣợc từ các máy chủ.
Các cuộc tấn công nhƣ vậy thƣờng buộc máy tính mục tiêu phải xử lý một số lƣợng lớn những thứ vô dụng, với mong muốn sử dụng tất cả các tài nguyên quan trọng của nó. Một cuộc tấn công từ chối dịch vụ (Denial of Service), ký hiệu là DoS, có thể đƣợc thực hiện từ một máy tính hoặc từ một nhóm máy tính đƣợc phân phối trên Internet.1 Tấn công DoS Làm ngập SYN là một kỹ thuật điển hình và hiệu quả đƣợc sử dụng bởi các cuộc tấn công DoS. Cuộc tấn công smurf là một kiểu tấn công DoS điển hình khác, trong đó smurf là tên của phần mềm đƣợc sử dụng để thực hiện cuộc tấn công. Nó gửi một số lƣợng quá nhiều bản tin đến máy tính mục tiêu và làm hỏng nó bằng cách tiêu thụ tất cả tài nguyên của nó.
Trong một cuộc tấn công smurf điển hình, kẻ tấn công gửi ping đƣợc tạo thủ công yêu cầu tới một số lƣợng lớn máy tính trong một khoảng thời gian ngắn, trong đó địa chỉ IP nguồn trong yêu cầu ping đƣợc tạo thủ công đƣợc thay thế bằng địa chỉ IP của nạn nhân. Theo giao thức Internet Control Message Protocol (ICMP), một máy tính nhận đƣợc yêu cầu ping sẽ trả lời địa chỉ IP nguồn bằng một bản tin pong, thông báo cho ngƣời gửi rằng “Tôi còn sống”. Do đó, mỗi máy tính nhận đƣợc yêu cầu ping thủ công sẽ phản hồi lại máy tính của nạn nhân bằng một bản tin pong. Bị buộc phải xử lý một số lƣợng lớn bản tin pong trong một khoảng thời gian 16 ngắn, máy tính của nạn nhân sẽ sử dụng hết tài nguyên máy tính và gặp sự cố (xem hình 1.
Vì vậy, ý tƣởng của các cuộc tấn công smurf là mƣợn tay rất nhiều ngƣời để tấn công một mục tiêu duy nhất.4 Cuộc tấn công Smurf 1.2 Tấn công DDoS Một cuộc tấn công DDoS điển hình diễn ra theo trình tự sau: - Thỏa hiệp càng nhiều máy tính nối mạng càng tốt bằng cách sử dụng Trojan. - Cài đặt phần mềm đặc biệt trong các máy tính bị xâm nhập để sau đó thực hiện một cuộc tấn công DoS vào một thời điểm nhất định. Phần mềm nhƣ vậy đƣợc gọi là phần mềm zombie và một máy tính nhƣ vậy đƣợc gọi là máy tính zombie. Một tập hợp các zombie còn đƣợc gọi là đội quân zombie, ngày nay thƣờng đƣợc gọi là botnet.
- Ra lệnh tấn công cho mọi máy tính zombie để khởi động một cuộc tấn công DoS vào cùng một mục tiêu cùng một lúc.5 mô tả một cuộc tấn công DDoS. Khi nhận đƣợc lệnh của kẻ tấn công, mỗi máy tính zombie sử dụng tính năng ngập SYN để mute trang web của nạn nhân. Ví dụ, vào năm 2000, một học sinh trung học 15 tuổi ở Montreal, Canada, với tên giả là “Mafiaboy”, đã thực hiện một cuộc tấn công DDoS nhằm vào các máy chủ 17 Web của một số công ty lớn và làm tê liệt các máy chủ Web này trong một tuần. Các công ty bao gồm Amazon, Cable News Network, eBay, E * Trade, Dell và Yahoo!, đã bị thiệt hại tài chính đáng kể vì cuộc tấn công này.
Mafiaboy bị kết án 8 tháng trong trại giam thanh thiếu niên.5 Tấn công DDoS dùng lụt SYN đến website nạn nhân 1.3 Thư rác Thƣ rác là những thƣ điện tử email không đƣợc chờ đợi, có thể là thƣ thƣơng mại hoặc thƣ lừa đảo. Mặc dù không nhằm mục đích khiến máy tính của nạn nhân ngừng hoạt động, nhƣng các thƣ rác vẫn tiêu tốn tài nguyên máy tính. Thƣ rác rất khó chịu, đặc biệt là khi hộp thƣ của một ngƣời chứa đầy chúng. Các hệ thống nhắn tin điện tử tiêu chuẩn đã giúp các cá nhân và công ty có thể gửi những bản tin hàng loạt không mong muốn cho mọi ngƣời.
Những cá nhân hoặc công ty nhƣ vậy thƣờng đƣợc coi là những ngƣời gửi thƣ rác. Gửi thƣ rác có thể xảy ra trong bất kỳ hình thức ứng dụng mạng nào, nhƣng thƣ rác email cho đến nay là hình thức gửi thƣ rác phổ biến nhất. Theo một thống kê gần đây, khoảng nửa tỷ email spam đƣợc gửi đi mỗi ngày. Nói cách khác, mỗi ngƣời dùng email sẽ nhận đƣợc khoảng tám bản tin rác mỗi ngày.
Thƣ rác cũng xảy ra trong các công cụ tìm kiếm Web, nhắn tin tức thời, blog, nhắn tin trên điện thoại di động và các ứng dụng mạng khác. 18 Bộ lọc thƣ rác là giải pháp phần mềm để phát hiện và chặn thƣ rác đến hộp thƣ của ngƣời dùng.10 Phần mềm độc hại Phần mềm nhằm mục đích gây hại cho máy tính là phần mềm độc hại. Các dạng phần mềm độc hại phổ biến bao gồm Virus, Worm, Trojan, Bom logic, Backdoor và Phần mềm gián điệp.1 Virus và Worm Virus máy tính là một phần mềm có thể tự sinh sản. Tuy nhiên, virus không phải là một chƣơng trình độc lập mà nó phải tự đính kèm vào chƣơng trình khác hoặc tệp khác.
Chƣơng trình hoặc tệp có chứa virus đƣợc gọi là chƣơng trình bị nhiễm (còn đƣợc gọi là máy chủ bị nhiễm). Khi một chƣơng trình bị nhiễm đƣợc truyền sang một máy tính khác, virus trong đó cũng đƣợc truyền cùng với chƣơng trình chủ của nó.