CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LAN TRUYỀN CHẤT Ô NHIỄM TRONG MÔI TRƯỜNG ĐỊA KỸ THUẬT 1. Các khái niệm chung Trong môi trường đất đá, nước là hợp phần có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến đặc tính địa kỹ thuật trong đó có việc vận chuyển, lan truyền chất ô nhiễm. Do vậy những vấn đề về điều kiện địa chất thủy văn bao gồm sự phân bố không gian, thành phần, tính chất của các tầng chứa nước, thấm nước yếu, trạng thái tồn tại,… đặc biệt là tính thấm và chế độ thủy động lực của dòng chảy là những yếu tố quan trọng quyết định khả năng, phương thức, tốc độ vận chuyển, lan truyền chất ô nhiễm và cả các quá trình biến đổi hóa, lí, sinh học của chúng. Đó là những vấn đề cơ bản cần để hiểu chất ô nhiễm vận chuyển, lan truyền như thế nào dưới mặt đất.
Nước Nước trong đất đá tồn tại dưới những dạng: hơi nước, nước liên kết vật lý, nước mao dẫn, nước trọng lực, nước ở trạng thái rắn, nước trong mạng tinh thể khoáng vật. Nước ở trạng thái hơi Nước ở trạng thái hơi tồn tại trong lỗ hổng và khe nứt rỗng. Hơi nước rất dễ di chuyển, chúng vận động từ nơi có áp lực lớn đến nơi có áp lực nhỏ, đi từ nơi có độ ẩm lớn đến nơi có độ ẩm nhỏ hơn, có thể vận động từ khí quyển vào lỗ rỗng của đất hoặc ngược lại. Nước liên kết vật lý Nước liên kết vật lý bị giữ trên bề mặt các hạt cứng bởi những lực liên kết lớn hơn trọng lực, vận động chậm chạp hơn rất nhiều so với nước tự do.
Nước liên kết chặt (nước hấp phụ) được thành lạo do sự hấp phụ các phân tử nước trên bề mặt của các hạt, tạo thành một lớp rất mỏng sát ngay trên bé mặt các hạt. - Nước liên kết yếu (nước màng mỏng) phân bố ngay trên lớp nước liên kết chặt bằng mối liên kết phân tử. Lực liên kết giữa các phân tử nước và bể mặt hạt yếu đi nhiều. Nước liên kết yếu tồn tại trong đất đá khi độ ẩm trong đất đá lớn hơn độ ẩm hấp phụ lớn nhất.
Nước mao dẫn Nước mao dẫn là nước chứa trong các lỗ hổng và các khe rãnh mao dẫn, chủ yếu do tác dụng của lực mao dẫn phát sinh ở phần tiếp xúc giữa nước với không khí trong đất đá. Nước trọng lực Nước trọng lực (nước lỏng) được thành tạo trong đất đá khi độ ẩm của chúng lớn hơn độ ẩm phân tử tối đa hay khi các lỗ hổng đất đá bão hoà nước. Vận động của nước trọng lực diễn ra chủ yếu dưới tác dụng của trọng lực và của gradien áp lực. Nước trọng lực còn được gọi là nước tự do có khả năng truyền áp lực thủy tĩnh.
Khi vận động trong đất đá nước trạng thái lỏng có những tác dụng khác nhau lên chúng. Nó có thể phá hủy cơ học, hoà tan và rữa lũa đất đá. Nước lỏng được thành tạo ở phần trên của vỏ quả đất. Vận động của nước lỏng trong đất đá có thể chia làm 2 dạng: ngấm và thấm.
Khi nước vận động trong đất đá mà chỉ một phần các lỗ rỗng chứa đầy nước và nước vận động qua các lỗ rỗng đó thôi thì vận động của chúng được gọi là ngấm. Quá trình thấm xảy ra trên những diện rộng với dòng thấm lớn; lúc đó tất cả các lỗ rỗng của tầng đất đá đều bão hoà nước và nước thấm dưới tác dụng của áp lực mao dẫn, građien áp lực và trọng lực. Nước ở trạng thái rắn Nước ở trạng thái rắn khi nhiệt độ thấp dưới 0° nước trọng lực và một phần nước liên kết đóng băng biến thành nước ở trạng thái rắn. Nước liên kết hoá học Nước liên kết hoá học tham gia vào mạng tinh thể các khoáng vật dưới dạng các ion OH- hoặc H3O+.Nó được tách ra khỏi mạng tinh thể khi nung nóng khoáng vật đến nhiệt độ từ 300°C - 1.300°C và khi mạng tinh thể hoàn toàn bị phá hủy.
Nước kết tinh Nước kết tinh là nước nằm trong mạng tinh thể các khoáng vật dưới dạng phân tử nước H20 hoặc nhóm các phân tử nước. Nó có thể tách ra khỏi khoáng vật khi nung nóng chúng đến nhiệt độ từ 250°C - 300°C. Ô nhiễm đất, nước và các dạng ô nhiễm trong đất và nước 1. Khái niệm Đất ô nhiễm bị gây ra bởi sự có mặt của hóa chất xenobiotic (sản phẩm của con người) hoặc do các sự thay đổi trong môi trường đất tự nhiên.
Nó được đặc trưng gây nên bởi các hoạt động công nghiệp, các hóa chất nông nghiệp, hoặc do vứt rác thải không đúng nơi quy định. Các hóa chất phổ biến bao gồm hydrocacbon dầu, hydrocacbon thơm 5 nhiều vòng (như là naphthalene and benzo(a)pyrene), dung môi, thuốc trừ sâu, chì, và các kim loại nặng. Mức độ ô nhiễm có mối tương quan với mức độ công nghiệp hóa và cường độ sử dụng hóa chất. Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng được cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.
Các dạng ô nhiễm trong đất, nước a) Ô nhiễm sinh học Ô nhiễm sinh học là kết quả của các hoạt động sản sinh ra lượng lớn các vi sinh vật có hại trong đất. Những vi sinh vật này bao gồm cả các vi khuẩn và vi rút, cả hai loại này đều có thể gây hại cho sức khỏe. Ô nhiễm sinh học là vấn đề quan trọng đối với nước mặt, như sông và hồ, một phần bởi vì những nguồn nước này vận động nhanh hơn và do đó lây lan ô nhiễm ra diện rộng. Ô nhiễm hóa học có nguồn gốc từ sự tập trung với quy mô lớn của các chất hóa học có hại trong nước ngầm.
Ô nhiễm hóa học thường gặp hơn và khó giải quyết hơn ô nhiễm sinh học bởi các chất hóa học không bị mất đi, do đó nó có thể di chuyển đi với khoảng cách khá xa. Dòng ô nhiễm có thể được tìm thấy cách xa đến vài kilomet xuống hạ lưu kể từ nguồn. Sự có mặt của các chất hóa học trong nước ngầm có thể gây hại cho con người và môi trường. Một vài chất gây ung thư, những chất khác gây ra các vấn đề khác nhau cho sức khỏe.
Nguồn gây ô nhiễm môi trường đất, nước Những chất gây ô nhiễm dưới đất có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau. Các điểm ô nhiễm được giới hạn trong một diện tích nhỏ, ví dụ như một lỗ thủng của tầng nước ngầm hoặc vị trí chỗ xả thải ngẫu nhiên, khi các nguồn không ở dạng “điểm ô nhiễm” thì thâm nhập vào nền qua một diện tích lớn, ví dụ như các chất học dùng trong nông nghiệp thâm nhập qua diện tích ruộng trồng. Các nguồn gây ô nhiễm phổ biến nhất gồm - Các nơi quản lý chất thải rắn; - Các nơi xử lý đất; - Các chuồng trại ở trên mặt đất; 6 - Các giếng chất thải; - Các lò thiêu và các công trình công nghiệp hóa; - Bể và các chỗ chữa chất thải. Một số trường hợp ô nhiễm liên quan với các nguồn thống kê ở trên được mô tả trong Hình 1.1a, bãi chữa rác thải là nguồn các chất ô nhiễm, các chất này đã rò rỉ qua các khe nứt trong lớp đệm vào môi trường xung quanh.1b, nguồn là chất thải được chôn vùi, không sử dụng hệ chứa, không có lớp lót đáy.
Hậu quả là, các thành phần chất thải đã được di chuyển mà không bị cản trở hay chỉ cản trở chút ít vào đất xung quanh.1c là một đống chất thải nằm trực tiếp trên mặt đất không được bảo vệ. Các hạt chất thải đã di chuyển vào trong đất như các kho trữ vật thải khi khai mỏ và các chất ô nhiễm được khai mỏ, các sản phẩm phụ công nghiệp.1e tương tự Hình 1.1c, nhưng trong trường hợp này chất thải bị hòa tan trong môi trường chất lỏng vận chuyển, rò rỉ xuống dưới và bị các nút đất hạt mịn phân bố ngẫu nhiên trong môi trường địa chất năm dưới thu hút.1h cho thấy các chỗ chứa trên mặt có lớp lót thường được dùng trong xử lý chất thải lỏng. Trong cả hai trường hợp mô tả, các chất ô nhiễm pha lỏng được phóng thích.1f, sự di chuyển chất ô nhiễm ra xa địa điểm được tăng cường khi nó vào môi trường có tính thấm tương đối cao ở dưới mực nước ngầm. Chất ô nhiễm lỏng phóng thích từ các bể chữa chôn sâu một phần được mô tả trong các Hình 1.1f chất ô nhiễm được lưu giữ trong các khe nứt.1g chất lỏng phóng thích ra là bay hơi, vì thế các khí được bốc ra.
Sự rò rỉ của bể chứa thường phổ biến tại các nhà máy xử lý hóa chất, các lò sấy 7 Hình 1.1: Các trường hợp khu vực ô nhiễm [1] 8 Hình 1.2: Vùng ô nhiễm phân bố không đều 1. Cơ chế vận chuyển, lan truyền ô nhiễm Quá trình vận chuyển, lan truyền khối tham gia vào việc tiêu thụ hay sản sinh khối trong môi trường lỗ rỗng và tuân theo nguyên lí bảo toàn khối lượng : Lưu lượng Lưu lượng Lưu lượng Lưu lượng khối vào - khối ra +/- khối sinh ra = khối tích lũy hay tiêu thụ (dấu + hay - dùng cho lưu lượng khối sinh ra hay tiêu thụ) Định luật Fick [1] diễn tả quá trình khuếch tán của chất lỏng tương tự định luật thấm Darcy (đã được dùng phổ biến trong các bài tính thấm) như sau: dC (1.1) J D* dx Trong đó: C là nồng độ chất hòa tan; D* là hệ số khuếch tán cho môi trường đất đá; J là khối lượng chất khuếch tán vào môi trường trong một đơn vị diện tích theo một đơn vị thời gian. D* có vai trò tương tự hệ số thấm của môi trường đất đá. Phương trình lan truyền ô nhiễm được thể hiện cơ bản bởi hai thành phần phân tán và khuếch tán cơ học như sau: 9 D .2) Trong đó: là độ phát tán; là vận tốc thực trong lỗ rỗng đất đá và D* là hệ số khuếch tán cho môi trường đất đá.
Trong không gian một chiều, phương trình phân tán, khuếch tan tổng quát có thể viết dưới dạng: 2C C r C (1.3) Dx 2 Vx x x n t Trong đó: r là khối lượng chất được sinh ra hoặc mất đi do các phản ứng động học; n là độ lỗ rỗng của môi trường đất đá. Khi không xét tới các phản ứng hóa học, nồng độ khuếch tán đơn giản được thể hiện theo phương trình sau: 2C C (1.