Chương 1 nêu ra những vấn đề cơ bản mà nghiên cứu hướng đến, bao gồm vấn đề nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Những chương sau được thực hiện nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu và trả lời câu hỏi nghiên cứu được đặt ra trong chương này. download by : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 tập trung đưa ra một số vấn đề làm cơ sở cho việc phân tích tình trạng nghèo của người Khmer. Trong những vấn đề được nêu ra có khái niệm về nghèo, việc làm thế nào để xác định ngưỡng nghèo, khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo.
Sau cùng tác giả sẽ đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết có liên quan.1 Khái niệm về nghèo Nghèo là một vấn đề lớn mà cả nhân loại đang phải đối mặt. Cuộc chiến chống đói nghèo vẫn đang là một thử thách tại nhiều quốc gia và vẫn chưa dẫn đến hồi kết. Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu về nghèo và chống đói nghèo được thực hiện. Cùng với đó là rất nhiều khái niệm về nghèo đã được đưa ra.
Từ trước đến nay, đã có nhiều tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau về nghèo. Sen (1999) cho rằng “nghèo là không có khả năng và quyền tự do đáng kể để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn”. Ravallion (1994) quan niệm rằng “nghèo là tình trạng một hay nhiều cá nhân trong xã hội không có được một mức phúc lợi kinh tế được coi là cần thiết để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hợp lý theo tiêu chuẩn xã hội đó”. Blackwood và Lynch (1994) thì cho rằng người nghèo là những người không được đáp ứng đầy đủ nhu cầu cơ bản, gồm nhu cầu vật chất như thực phẩm, y tế, giáo dục, nơi ở, và nhu cầu phi vật chất như sự tham gia hoạt động xã hội, danh dự cá nhân.
Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra những khái niệm khác nhau về nghèo. Cùng với thời gian, Ngân hàng Thế giới đã không ngừng chỉnh sửa, bổ sung những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong những báo cáo của mình. Trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 1990, Ngân hàng Thế giới cho rằng nghèo là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến giai đoạn 2000 - 2001, Ngân hàng Thế giới bổ sung vào khái niệm về nghèo những nét mới như tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương.
Tổ chức này cho rằng người nghèo dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường mà họ không có khả năng kiểm soát và thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tệ, và họ bị gạt ra bên lề xã hội (Nguyễn Đỗ Trường Sơn, 2012). download by : skknchat@gmail.2 Xác định ngưỡng nghèo Nghèo có thể được đo lường cả bằng cách tuyệt đối lẫn bằng cách tương đối. Nếu đo lường theo cách tuyệt đối, thì nghèo được xác định như là thu nhập hay tiêu dùng dưới một mức tối thiểu cần thiết cho nhu cầu vật chất. Theo Ngân hàng Thế giới, mức thu nhập 1 USD mỗi ngày là tiêu chuẩn để xác định ngưỡng nghèo cùng cực, dựa vào nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu.
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam thì ngưỡng nghèo được xác định dựa trên nhu cầu calorie mà một người cần hấp thụ để có sức khỏe tốt. Rổ hàng hóa để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu đó được xây dựng dựa trên các loại thực phẩm phổ biến ở địa phương, và được quy đổi thành giá trị tiền tệ. Sau đó, chi phí cho những nhu cầu cơ bản khác như nhà ở, y tế, vệ sinh được thêm vào, theo một tỷ lệ so với nhu cầu dinh dưỡng (Pincus, 2013). Nếu đo lường theo cách tương đối, thì nghèo được xác định bằng việc đo lường thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình so với thu nhập và chi tiêu của cộng đồng.
So sánh với thước đo nghèo tuyệt đối, thì thước đo nghèo tương đối có một lợi thế là được tự động nâng lên khi thu nhập của toàn xã hội gia tăng. Bên cạnh đó, nó cũng đỡ nhạy cảm hơn đối với sự thay đổi về giá của một số loại hàng hóa nhất định. Ví dụ, ở Việt Nam, ngưỡng nghèo được xác định bằng con số tuyệt đối, nên khi giá gạo tăng lên sẽ làm cho nhiều hộ gia đình rơi vào tình trạng nghèo hơn. Tuy nhiên, trong thực tế, những hộ này có thể sử dụng những loại ngũ cốc khác thay thế cho gạo, ví dụ như khoai, bắp.
Vì vậy, những hộ đó chưa hẳn đã nghèo hơn so với trước đây. Điều này làm cho tỷ lệ nghèo trong thực tế không thay đổi nhiều lắm. Ngưỡng nghèo được xác định khác nhau tùy quốc gia và cũng tùy tổ chức. Ngưỡng nghèo ở các nước giàu là cao hơn so với các nước nghèo, bởi lẽ thu nhập bình quân ở các nước giàu cao hơn các nước nghèo rất nhiều.
Năm 2010, ngưỡng nghèo cho một gia đình 4 người tại Mỹ (gồm có cha mẹ và hai con) là 22,162 đô la mỗi năm (Pincus, 2013). Trong năm 2010, quy định của chính phủ Việt Nam đối với ngưỡng nghèo ở khu vực thành thị là 500,000 đồng, ở khu vực nông thôn là 400,000 đồng, tính trên mỗi đầu người mỗi tháng (Quyết định 09/2011/QĐ-TTg, 2011). Tuy nhiên cũng trong năm đó, theo tiêu chí của Ngân hàng thế giới, thì ngưỡng nghèo của người dân Việt Nam là 653,000 đồng tính trên mỗi đầu người mỗi tháng, cao hơn nhiều so với ngưỡng nghèo mà chính phủ đưa ra (Ngân hàng Thế giới, 2012). download by : skknchat@gmail.com 6 Trong hội thảo tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2013, đại diện của Ngân hàng Thế giới cho rằng mỗi ngưỡng nghèo đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng.
Trong điều kiện Việt Nam, thì ngưỡng nghèo do Tổng cục Thống kê đưa ra có ưu điểm là có sự phân biệt về tình trạng nghèo ở khu vực nông thôn và thành thị. Ngưỡng nghèo của Ngân hàng Thế giới đưa ra thì lại dễ áp dụng hơn do không phải cân nhắc yếu tố vùng miền khi xác định tình trạng nghèo của hộ. Bên cạnh đó, ta nhận thấy ngưỡng nghèo mà Ngân hàng Thế giới đưa ra cao hơn hẳn so với cả hai ngưỡng nghèo (ở cả khu vực thành thị lẫn khu vực nông thôn) mà Tổng cục Thống kê đưa ra. Do đó, trong nghiên cứu này sẽ sử dụng ngưỡng nghèo của Ngân hàng thế giới.3 Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo Nhóm tác giả Andersson, Engvall, và Kokko (2006) đưa ra khung phân tích về những nhân tố tác động đến chi tiêu bình quân của hộ gia đình, qua đó tác động đến tình trạng nghèo của hộ như sau: Hình 2-1: Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo Yếu tố dân tộc: Tiết kiệm, chuyển giao Nguồn gốc dân tộc Đặc điểm hộ gia đình: Quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc Yếu tố môi trường: Thể chế, chính sách, cạnh tranh, cơ sở hạ tầng Yếu tố sản xuất: Lao động, vốn con người, vốn vật chất, đất đai, kỹ thuật Chi tiêu bình quân thực của hộ gia đình Nguồn: Andersson và các tác giả (2006) download by : skknchat@gmail.com 7 Khung phân tích trên đã khái quát các nhóm nhân tố đặc trưng, và sự ảnh hưởng qua lại của các nhóm nhân tố này đến chi tiêu bình quân của hộ gia đình, từ đó tác động đến đến việc rơi vào tình trạng nghèo của hộ.
Trong phần lõi của mô hình là những nhân tố liên quan đến khả năng sản xuất của hộ gia đình bao gồm: lao động, vốn con người, vốn vật chất, đất đai, kỹ thuật. Khả năng hộ gia đình phát huy những nhân tố sản xuất đó phụ thuộc vào các yếu tố về môi trường, bao gồm: thể chế, chính sách, sự cạnh tranh, cơ sở hạ tầng. Cuối cùng, khả năng phát huy tối đa hiệu quả của hai nhóm nhân tố kể trên lại chịu ảnh hưởng của các nhân tố về đặc tính nhân khẩu của hộ gia đình là: quy mô hộ gia đình, tỷ lệ phụ thuộc. Sự cộng gộp của cả ba nhóm yếu tố gồm yếu tố sản xuất, yếu tố môi trường và yếu tố liên quan đến đặc điểm hộ gia đình sẽ góp phần quan trọng nhất ảnh hưởng đến chi tiêu bình quân của hộ.
Bên cạnh đó, yếu tố dân tộc có sự tác động tổng hợp đến cả ba nhóm yếu tố đặc điểm hộ gia đình, yếu tố môi trường, và yếu tố sản xuất. Bảng 2-1: Những nhân tố ảnh hưởng đến nghèo Phân theo đặc tính Các nhân tố Sự cách biệt địa lý Hạn chế trong tiếp cận thị trường Nguồn lực cơ bản như đất đai và tiếp cận đất đai Đặc điểm ở cấp độ vùng Điều kiện tự nhiên Quản lý nhà nước Bất bình đẳng Hạ tầng cơ sở (điện, nước, đường giao thông) Đặc điểm ở cấp độ cộng đồng Phân bố đất đai Khả năng tiếp cận dịch vụ công (y tế, giáo dục) Quy mô hộ Tỷ lệ phụ thuộc Giới tính chủ hộ Đặc điểm ở cấp độ hộ gia đình Tài sản của hộ gia đình (đất đai, nhà cửa) Tỷ lệ thành viên có việc làm, loại hình công việc. Trình độ học vấn trung bình của hộ Tuổi Giáo dục (số năm đi học, bằng cấp cao nhất) Đặc điểm ở cấp độ cá nhân Việc làm (tình trạng việc làm, loại hình công việc) Dân tộc (thuộc nhóm dân tộc thiểu số hay không) Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2007), trích trong Trương Thanh Vũ (2007) download by : skknchat@gmail.com 8 So với khung phân tích của Andersson và các tác giả (2006), thì danh sách các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo được Ngân hàng Thế giới (2007) đưa ra đầy đủ và chi tiết hơn. Khung phân tích của Ngân hàng thế giới (2007) mặc dù được tác giả Trương Thanh Vũ ứng dụng trong phân tích của mình về các nhân tố dẫn đến tình trạng nghèo của người dân ở các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng không mất đi tính tổng quát của nó đối với tình trạng nghèo của người dân ở những khu vực khác.
Do vậy khung phân tích này hoàn toàn có thể được sử dụng để nghiên cứu về nghèo của người Khmer ở toàn bộ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.