Nghệ Thuật Tự Sự Trong Truyện Ngắn Và Tiểu Thuyết Của Uông Triều

Chuyên khảo phân tích Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của uông triều, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

197
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Lịch sử vấn đề

0.4. Mục đích nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Cấu trúc khoá luận

1. KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ TÁC GIẢ UÔNG TRIỀU

1.1. Khái quát về nghệ thuật tự sự

1.2. Tự sự và tự sự học

1.3. Tính khả dụng của tự sự học trong việc nghiên cứu văn xuôi tự sự

1.4. Một số vấn đề của nghệ thuật tự sự

1.5. Tình huống tự sự

1.6. Diễn ngôn tự sự

1.7. Uông Triều trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại

1.7.1. Khái quát văn học Việt Nam đương đại

1.7.2. Uông Triều – một tác giả trẻ say sưa thể nghiệm cái mới của văn học Việt Nam đương đại

2. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT CỦA UÔNG TRIỀU

2.1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều

2.2. Các kiểu cốt truyện trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều

2.2.1. Cốt truyện sự kiện

2.2.2. Cốt truyện tâm lí

2.2.3. Cốt truyện đa tuyến

2.2.4. Cốt truyện lắp ghép

2.2.5. Cốt truyện lồng khung

2.3. Nghệ thuật xử lí thời gian tự sự của Uông Triều

2.3.1. Phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính

2.3.2. Ngưng đọng thời gian bằng những bức tranh nội cảm

2.3.3. Trùng lặp sự kiện: những ám ảnh tâm lí không dứt

2.4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều

2.4.1. Tô đậm những lời nói, hành động cá biệt

2.4.2. Đào sâu tâm lí bằng kĩ thuật dòng ý thức

2.4.3. Mờ hoá nhân vật

3. NGHỆ THUẬT KIẾN TẠO TÌNH HUỐNG TỰ SỰ VÀ DIỄN NGÔN TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT CỦA UÔNG TRIỀU

3.1. Nghệ thuật kiến tạo tình huống tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều

3.1.1. Đấng bề trên toàn tri

3.1.2. Kẻ dị thuật thấu cảm

3.1.3. Người đồng thuật giãi bày

3.2. Nghệ thuật kiến tạo diễn ngôn tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều

3.2.1. Diễn ngôn gián tiếp tự do: những tiếng nói phức điệu

3.2.2. Diễn ngôn trực tiếp: những cuộc đối thoại soi chiếu

3.2.3. Diễn ngôn trực tiếp tự do: những lời giàu chất sống

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghệ Thuật Tự Sự Trong Văn Học Uông Triều

Nghệ thuật tự sự là một phần không thể thiếu trong văn học Uông Triều. Tác giả đã khéo léo sử dụng các yếu tố tự sự để tạo nên những tác phẩm độc đáo, phản ánh sâu sắc tâm tư và tình cảm của nhân vật. Uông Triều không chỉ đơn thuần kể chuyện mà còn tạo ra những không gian nghệ thuật phong phú, nơi mà người đọc có thể cảm nhận được chiều sâu của nhân vật và bối cảnh xã hội. Việc nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong tác phẩm của ông giúp hiểu rõ hơn về phong cách và tư tưởng sáng tác của một trong những nhà văn trẻ nổi bật trong văn học Việt Nam đương đại.

1.1. Khái Niệm Nghệ Thuật Tự Sự Trong Văn Học

Nghệ thuật tự sự là phương thức kể chuyện, thể hiện những trải nghiệm và cảm xúc của nhân vật. Trong văn học Uông Triều, nghệ thuật này được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau, từ cốt truyện đến nhân vật, tạo nên một bức tranh đa dạng về cuộc sống và con người.

1.2. Đặc Điểm Nổi Bật Của Nghệ Thuật Tự Sự Uông Triều

Uông Triều sử dụng nghệ thuật tự sự với nhiều phong cách khác nhau, từ lồng ghép cốt truyện đến việc xây dựng nhân vật phức tạp. Điều này không chỉ làm phong phú thêm nội dung tác phẩm mà còn tạo ra những trải nghiệm mới mẻ cho người đọc.

II. Những Thách Thức Trong Việc Nghiên Cứu Nghệ Thuật Tự Sự

Việc nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong văn học Uông Triều gặp phải nhiều thách thức. Đầu tiên, sự phức tạp trong cách xây dựng cốt truyện và nhân vật khiến cho việc phân tích trở nên khó khăn. Thứ hai, sự đa dạng trong phong cách viết của Uông Triều đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về văn học và lý thuyết tự sự. Cuối cùng, việc thiếu tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về tác giả cũng là một rào cản lớn.

2.1. Khó Khăn Trong Phân Tích Cốt Truyện

Cốt truyện trong tác phẩm của Uông Triều thường không theo một trật tự tuyến tính, điều này gây khó khăn cho việc phân tích và hiểu rõ mạch truyện. Các nhà nghiên cứu cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng để nắm bắt được ý nghĩa sâu xa của từng tình huống.

2.2. Đòi Hỏi Kiến Thức Chuyên Sâu Về Văn Học

Để nghiên cứu nghệ thuật tự sự của Uông Triều, người nghiên cứu cần có kiến thức vững vàng về lý thuyết tự sự và các phong cách văn học hiện đại. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn giúp phân tích một cách chính xác hơn.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Nghệ Thuật Tự Sự Của Uông Triều

Để nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong tác phẩm của Uông Triều, có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phân tích văn bản là phương pháp chủ yếu, giúp làm rõ các yếu tố tự sự trong tác phẩm. Ngoài ra, so sánh với các tác giả khác cũng là một cách hiệu quả để nhận diện phong cách riêng của Uông Triều.

3.1. Phân Tích Văn Bản Tác Phẩm

Phân tích văn bản giúp làm rõ các yếu tố nghệ thuật tự sự, từ cốt truyện đến nhân vật. Qua đó, người nghiên cứu có thể nhận diện được những đặc điểm nổi bật trong phong cách viết của Uông Triều.

3.2. So Sánh Với Các Tác Giả Khác

So sánh tác phẩm của Uông Triều với các tác giả khác trong cùng thời kỳ giúp làm nổi bật những điểm khác biệt và tương đồng trong phong cách sáng tác. Điều này cũng giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh văn học đương đại.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghệ Thuật Tự Sự Trong Tác Phẩm

Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm của Uông Triều không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Các tác phẩm của ông có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy trong các khóa học văn học hiện đại, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về nghệ thuật tự sự và phong cách viết của tác giả.

4.1. Tài Liệu Giảng Dạy Trong Các Khóa Học Văn Học

Tác phẩm của Uông Triều có thể được đưa vào chương trình giảng dạy, giúp sinh viên tiếp cận với những phong cách viết mới mẻ và hiện đại. Điều này không chỉ làm phong phú thêm nội dung học tập mà còn kích thích sự sáng tạo của sinh viên.

4.2. Nghiên Cứu Văn Học Đương Đại

Nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong tác phẩm của Uông Triều góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam đương đại. Các nghiên cứu này có thể giúp phát hiện ra những xu hướng mới trong văn học và nghệ thuật tự sự.

V. Kết Luận Về Nghệ Thuật Tự Sự Trong Văn Học Uông Triều

Nghệ thuật tự sự trong văn học Uông Triều là một lĩnh vực phong phú và đa dạng, phản ánh sâu sắc tâm tư và tình cảm của nhân vật. Việc nghiên cứu nghệ thuật này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn mở ra những hướng đi mới trong nghiên cứu văn học. Tương lai của nghệ thuật tự sự trong văn học Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển và đổi mới, với những đóng góp của các tác giả trẻ như Uông Triều.

5.1. Tương Lai Của Nghệ Thuật Tự Sự

Nghệ thuật tự sự sẽ tiếp tục phát triển trong bối cảnh văn học hiện đại, với những thể nghiệm mới từ các tác giả trẻ. Điều này hứa hẹn sẽ mang đến những tác phẩm độc đáo và sáng tạo hơn.

5.2. Đóng Góp Của Uông Triều Trong Văn Học Đương Đại

Uông Triều đã đóng góp một phần quan trọng vào văn học Việt Nam đương đại, với những tác phẩm mang tính nghệ thuật cao. Nghiên cứu nghệ thuật tự sự của ông sẽ giúp làm rõ hơn những giá trị văn học mà ông mang lại.

15/07/2025
Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của uông triều

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ TÁC GIẢ UÔNG TRIỀU 1. Khái quát về nghệ thuật tự sự 1. Tự sự và tự sự học Tự sự (narrative – gốc động từ tiếng Latin: narrare), theo cách hiểu phổ biến nhất, là việc (ít nhất) một người dùng một loại kí hiệu nhất định (ngôn ngữ, điệu bộ, hình ảnh,…) kể lại một hay một chuỗi sự kiện có thật hoặc hư cấu cho (ít nhất) một người khác (Onega & Landa, [1996] 2014, tr.2; Trần Đình Sử et al. Đây là phương thức sinh hoạt giải trí đầu tiên của con người và được coi là một đặc trưng cơ bản của nhân loại: “tự sự bỏ qua mọi cách biệt giữa văn học có giá trị hay tầm thường, xé bỏ những rào cản về văn hoá, lịch sử, dân tộc, nó tồn tại trong thế giới như chính bản thân cuộc sống” (Barthes, 2019, tr.

Thông qua tự sự, con người biểu đạt ý nghĩ của mình và giao tiếp với mọi người xung quanh; vì vậy, tự sự đã cấu thành nên nhiều phương diện quan trọng của văn hóa và bản sắc con người. Chính vì tự sự đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, tự sự học (narratology/narratologie) đã ra đời với tư cách là một hệ thống lí thuyết mang tính kĩ thuật nhằm giúp người ta tiếp nhận văn bản tự sự một cách hiệu quả. Thuật ngữ “narratology” được dịch theo nhiều cách khác nhau ở Việt Nam và Trung Quốc: ở Việt Nam, nó được dịch là “tự sự học” và “trần thuật học”; ở Trung Quốc, nó được dịch là “tự sự học” và “tự thuật học”. Hai thuật ngữ “trần thuật học” và “tự thuật học” có nội hàm tương đương nhau và khi sử dụng chúng, người ta phần lớn đặt trọng tâm nghiên cứu vào hành vi tự sự.

Ở đây, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “tự sự học” vì bộ môn này “bao gồm cả phần lí thuyết cấu trúc văn bản tự sự, cấu trúc sự kiện, vừa bao gồm cả phần nghiên cứu các hình thức và truyền thống tự sự trong các nền văn học dân tộc cũng như sự so sánh chúng với nhau” (Trần Đình Sử, 2017, tr. 15 Đến nay, tự sự học đã hình thành và phát triển trong một thời gian khá dài, nhưng nhìn chung, lấy chủ nghĩa cấu trúc làm cột mốc, có thể chia làm ba chặng: giai đoạn tiền kinh điển/tiền cấu trúc (trước 1960), giai đoạn kinh điển/cấu trúc (1960 – 1980) và giai đoạn hậu kinh điển/hậu cấu trúc (1980 – nay). Giai đoạn tiền kinh điển nghiên cứu các thành phần và chức năng của tự sự. Việc này đã được Platon và Aristotle đặt nền móng bằng việc phân biệt giữa mô phỏng (mimesis) và tường thuật (diegesis) cũng như những lí thuyết ban đầu về cốt truyện (mythos).

Đến khoảng đầu thế kỉ XX, sự nổi lên của chủ nghĩa hình thức Nga với các đại biểu như V.v… đã đặt nền móng cho sự phát triển của tự sự học kinh điển sau này: lí thuyết motif cố định/tự do là tiền đề để R. Barthes phân biệt sự kiện hạt nhân và sự kiện xúc tác; sự phân biệt fabula/siuzhet là cơ sở để phân biệt câu chuyện (story) và cốt truyện (narrative/plot); lí thuyết chức năng của V. Greimas nghiên cứu vai hành động của nhân vật; lí thuyết đối thoại của M. Bakhtin có tác động đáng kể đến việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật cũng như sự thể hiện lời nói, suy nghĩ trong văn bản tự sự.

Ngoài ra, còn phải kể đến những đóng góp của các học giả Anh – Mỹ như Perry Lubbock với Kĩ thuật hư cấu (The Craft of Fiction, 1921), Edward Forster với Những khía cạnh của tiểu thuyết (Aspects of the Novel, 1927) and Henry James với Nghệ thuật của tiểu thuyết (The Art of the Novel, 1934), v.v… Giai đoạn kinh điển chủ yếu dựa vào lí thuyết ngôn ngữ để nghiên cứu cấu trúc và cách tổ chức văn bản tự sự từ bề mặt tới bề sâu ở ba cấp độ: kể chuyện (narration), cốt truyện (narrative) và câu chuyện (story). Những đại biểu chủ chốt của giai đoạn này là Claude Bremond, Algirdas Greimas, Tzvetan Todorov, Roland Barthes và Gérard Genette; ngoài ra còn có những tác giả tiếp nối và phát triển như Gerald Prince, Seymour Chatman, Dorrit Cohn, Susan Lanser, v.v… Trong công trình Phân tích tự sự (Narrative Analysis), Martin Cortazzi đã chỉ ra 5 đặc điểm của tự sự học kinh điển như sau: (1) tự sự học là một môn học độc lập nghiên cứu ngữ pháp truyện kể khi coi “truyện kể như một cấp độ độc lập cụ thể trong tổ chức ngữ nghĩa của văn bản với các nguyên 16 tắc và khuôn mẫu bất biến riêng của nó”3; (2) chú trọng phân biệt câu chuyện (story) và diễn ngôn (discourse); (3) dựa vào ngữ pháp tạo sinh để nghiên cứu cấu trúc bề mặt (surface structure) – “sự biểu thị bằng chuỗi từ hoặc văn bản cụ thể” – và cấu trúc bề sâu (deep structure) – “một cấp độ tự sự trừu tượng mà từ đó văn bản bề mặt được tạo ra bằng cách sử dụng các quy tắc và đơn vị (ngữ pháp – M.P) được chọn lọc”4; (4) nỗ lực thiết lập khái niệm về vai hành động và các loại chức năng; (5) chú tâm tới các chuỗi, sự kết hợp và tầng bậc của các đơn vị tự sự (Cortazzi, [1993] 2002, tr. Tự sự học hậu kinh điển không phủ định mà kết hợp tự sự học kinh điển với “những phương pháp luận mới và những giả thuyết nghiên cứu mới; kết quả là ta có một loạt những quan điểm mới về các hình thức và chức năng của tự sự” (David Herman – dẫn theo Trần Đình Sử et al. Nói cách khác, nó mang tính mở nhiều hơn, đón nhận nhiều trào lưu lí thuyết khác ngoài nó, mang đến triển vọng nghiên cứu liên ngành đầy thú vị: tự sự học nữ quyền (feminist narratology), tự sự học tri nhận (cognitive narratology), tự sự học hậu thực dân (postcolonical narratology),… Thêm nữa, tự sự học hậu kinh điển còn “khai thác khả năng của những mô hình cũ hơn” (David Herman – dẫn theo Trần Đình Sử et al.233) nhưng tập trung vào khía cạnh tu từ của tự sự, tức là nghiên cứu những chiến lược thuyết phục, lôi cuốn độc giả: Wayne Booth đã kế thừa và phát triển lí thuyết của Lubbock, Friedman và James để tạo nên xu hướng này trong công trình Tu từ học tiểu thuyết (Rhetoric of Fiction, 1961); sau này, James Phelan tiếp tục hướng đi của Booth.

Trong khoá luận này, chúng tôi tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều theo lí thuyết của tự sự học kinh điển/cấu trúc, nên tất yếu, việc khái lược về cấu trúc của tự sự – vấn đề cốt lõi của tự sự 3 Within this study, an effort is made to define narrative as a specific autonomous level in the semantic organization of texts with its own rules and invariant patterns. 4 This is derived from linguistics to give the notion of surface narrative structures, the actual string of words or text manifested, and deep narrative structures, an abstract level of narrative from which the surface text is generated using selections of rules and units corresponding to a generative sentence grammar (Greimas, 1971, p. 17 học cấu trúc – là cần thiết vì nó chi phối toàn bộ những khái niệm công cụ bên dưới. Vấn đề cấu trúc của tự sự đã được các nhà nghiên cứu tranh luận trong một thời gian dài, cũng đồng nghĩa với việc có nhiều khác biệt trong quan niệm và cách định danh, nhưng nhìn chung, có hai khuynh hướng: lưỡng phân và tam phân.

Những người chủ trương lưỡng phân như các nhà hình thức Nga, Tzvetan Todorov (1966),… cho rằng tự sự bao gồm nội dung (câu chuyện) và hình thức (cốt truyện); còn những người chủ trương tam phân như Gérard Genette (1972, 1980)5, Mieke Bal (1977, 1985), Shlomid Rimmon-Kenan (1983),… thì cho rằng ngoài hai yếu tố trên còn có hành vi tự sự (kể chuyện). Trong mỗi khuynh hướng thì cách định danh thuật ngữ của các nhà nghiên cứu cũng có nhiều khác biệt. Quan niệm và thuật ngữ của các nhà nghiên cứu trên được hệ thống trong bảng sau: Bảng 1. Hệ thống các thuật ngữ về cấu trúc tự sự Câu chuyện Cốt truyện Kể chuyện Trường phái hình thức Nga fabula siuzhet Todorov (1966) histoire discours Genette (1972) histoire récit narration Bal (1977) (bản tiếng Pháp) histoire récit texte Bal (1985) (bản tiếng Anh) fabula story text Rimmon-Kenan (1983) story text narration Từ bảng trên có thể thấy, vấn đề nội dung và hình thức của tự sự được đông đảo các nhà nghiên cứu tán thành, chỉ có vấn đề hành vi tự sự là còn tranh cãi.

Ở đây, chúng tôi cho rằng hành vi tự sự cũng là một thành tố trong cấu trúc của tự sự, vì đó là nguồn gốc nảy sinh hình thức tự sự, chi phối tất cả mọi thủ 5 Trong công trình Diễn ngôn tự sự (1980), Genette đã phân tích ba hàm nghĩa của tự sự: (1) “sự trình bày bài tường thuật, diễn ngôn nói hoặc viết kể một sự kiện hoặc một chuỗi sự kiện”; (2) “chuỗi sự kiện, thực hoặc hư cấu, là đối tượng của diễn ngôn, và các mối quan hệ giữa chúng như liên kết, đối lập, trùng lặp, v.v…”; (3) “hành động kể” (Genette, 1980, p. Ba hàm nghĩa này, theo Genette, tương ứng với ba cấp độ của tự sự lần lượt được định danh tương ứng như sau: (1) cốt truyện (narrative/récit), (2) câu chuyện (story/histoire), (3) kể chuyện (narration). 18 pháp tự sự: “Nếu không có hành vi tự sự thì sẽ không có lời kể, thậm chí đôi khi không có cả nội dung tự sự” (Genette, 1980, tr. Như vậy, tự sự bao gồm ba thành tố: câu chuyện (story) – cốt truyện (narrative) – kể chuyện (narration).

Trong đó, câu chuyện là cấp độ trừu tượng nhất, được người đọc trừu xuất ra sau khi đọc văn bản; cốt truyện là cấp độ cụ thể hoá câu chuyện bằng các sự kiện được trình bày trực tiếp trên văn bản theo ít nhất một góc độ nhận thức nhất định; kể chuyện là cấp độ cho biết cách thức cụ thể mà câu chuyện được kể. Ba thành tố này tạo thành thế “tam diện nhất thể, chúng đồng sinh đồng tồn” (Lê Thời Tân, 2015, tr. Kế thừa thành tựu của các công trình trước, Luc Herman và Bart Vervaeck ([2001] 2005) đã xây dựng mô hình cấu trúc của tự sự như sau: 1. Kể chuyện (Narration) - Sự kể (Narrating) - Sự trình hiện ý thức (Representation of consciousness) Việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều được triển khai chủ yếu dựa vào mô hình cấu trúc này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghệ Thuật Tự Sự Trong Văn Học Uông Triều" khám phá sâu sắc cách thức mà nghệ thuật tự sự được thể hiện trong văn học của Uông Triều, nhấn mạnh những đặc điểm nổi bật và phong cách độc đáo của các tác phẩm. Tài liệu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh văn hóa và lịch sử của văn học Uông Triều mà còn mở ra những góc nhìn mới về cách mà các nhà văn sử dụng nghệ thuật tự sự để truyền tải thông điệp và cảm xúc.

Để mở rộng kiến thức của bạn về thể loại văn học này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ hay đặc điểm truyện ngắn phong điệp, nơi phân tích những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn trong văn học. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh dấu ấn chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết của nhà văn thuận cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về nghệ thuật tự sự và các xu hướng văn học hiện đại.