Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong đời sống văn học nghệ thuật, tự sự là một phương thức biểu nghĩa và ký hiệu học rộng lớn của nhân loại. Sự ra đời của lý thuyết tự sự học đã cung cấp hệ thống công cụ phân tích có căn cứ khoa học, giúp việc tiếp cận và giải mã văn bản tự sự giảm thiểu tính cảm tính. Tại Việt Nam, nghiên cứu nghệ thuật tự sự ngày càng khẳng định vai trò trọng yếu trong việc khám phá thông điệp nghệ thuật và nhận diện phong cách tác giả.

Tiến trình văn học Việt Nam đương đại từ sau Đổi mới 1986 ghi nhận sự chuyển mình mạnh mẽ với đóng góp của nhiều thế hệ nhà văn. Tiếp nối thế hệ tiên phong, các cây bút thuộc thế hệ trẻ sinh ra và trưởng thành sau chiến tranh (thế hệ 7X, 8X) như Đỗ Bích Thúy, Phan Hồn Nhiên, Uông Triều, Nguyễn Nguyên Phước, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Đinh Phương... tích cực thể nghiệm các lối viết mới. Trong số đó, Uông Triều (tên thật là Nguyễn Xuân Ban, sinh năm 1977 tại Quảng Ninh) nổi lên như một tác giả kiên trì theo đuổi con đường sáng tạo độc lập, không chiều chuộng thị hiếu đại chúng mà đặt trọng tâm vào việc đào sâu bản thể con người và giải cấu trúc hiện thực lịch sử cũng như đời sống đương đại. Tác phẩm của ông đặt ra nhiều thách thức tiếp nhận đối với độc giả chuyên nghiệp, tạo nên những cuộc thảo luận học thuật đáng chú ý (tiêu biểu như tọa đàm Cuộc hành hương của chữ năm 2019 về tiểu thuyết Cô độc).

Khóa luận xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Giới thuyết cơ sở lý luận và thực tiễn: hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản của tự sự học cấu trúc và định vị vị trí tác giả Uông Triều trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại.
  2. Ứng dụng lý thuyết tự sự học cấu trúc để khảo sát, mô tả và phân tích nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều trên 4 phương diện: cốt truyện, nhân vật, tình huống tự sự và diễn ngôn tự sự.
  3. Đưa ra những đánh giá khách quan về thành công và hạn chế trong nghệ thuật tự sự của Uông Triều.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều thể hiện qua cốt truyện, nhân vật, tình huống tự sự và diễn ngôn tự sự.
  • Phạm vi tư liệu khảo sát: Toàn bộ 04 tiểu thuyết và 02 tập truyện ngắn đã xuất bản của tác giả tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2022), bao gồm:
    • Tiểu thuyết: Tưởng tượng và dấu vết (NXB Văn học, 2014), Sương mù tháng Giêng (NXB Trẻ, 2015), Người mê (NXB Hội nhà văn, 2016), Cô độc (NXB Hội nhà văn, 2019).
    • Tập truyện ngắn: Đêm cuối cùng ở Ngọa Vân (NXB Hội nhà văn, 2012), Bò hoang phố cổ (NXB Văn học, 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý thuyết của tự sự học cấu trúc (kinh điển) làm nền tảng triển khai. Cấu trúc tự sự được tiếp cận theo mô hình tam phân gồm ba thành tố đồng sinh đồng tồn: Câu chuyện (story/histoire/fabula), Cốt truyện (narrative/récit/siuzhet) và Kể chuyện (narration) theo nghiên cứu của Gérard Genette, Shlomith Rimmon-Kenan, Mieke Bal, Luc Herman và Bart Vervaeck.

Nhà nghiên cứu / Trường phái Cấp độ nội dung sự kiện Cấp độ tổ chức văn bản Cấp độ hành vi tự sự
Trường phái hình thức Nga Fabula Siuzhet —
Tzvetan Todorov (1966) Histoire Discours —
Gérard Genette (1972) Histoire Récit Narration
Mieke Bal (1985) Fabula Story Text
Shlomith Rimmon-Kenan (1983) Story Text Narration

Các phân hệ lý thuyết chuyên biệt được tác giả vận dụng gồm:

  • Quan niệm về cốt truyện và thời gian tự sự: Xem cốt truyện là một cấu trúc vận động, sự sắp xếp thẩm mỹ phi biên niên theo ý đồ của người kể chuyện (Boris Tomashevski, Seymour Chatman, Lê Huy Bắc); khảo sát trật tự, tần suất, thời khoảng và kỹ thuật đồng hiện thời gian.
  • Lý thuyết xây dựng nhân vật: Tiếp cận nhân vật như một bản thể tự trị thông qua kỹ thuật xây dựng trực tiếp và gián tiếp (qua liên đới và ẩn dụ theo Shlomith Rimmon-Kenan); kỹ thuật dòng ý thức và kỹ thuật mờ hóa nhân vật.
  • Lý thuyết tình huống tự sự: Khung phân loại của Gérard Genette kết hợp giữa Thức (Mood - khoảng cách và tiêu điểm: tiêu điểm zero, nội tiêu điểm, ngoại tiêu điểm) và Thái (Voice - người kể chuyện: đồng thuật, dị thuật, ngoại thuật, nội thuật, tự thuật, chứng nhân); xác định 5 chức năng của người trần thuật gồm kể chuyện, kiểm soát, giao tiếp, chứng thực và bộc lộ tư tưởng.
  • Lý thuyết diễn ngôn tự sự: Mô hình giao tiếp tự sự (Manfred Jahn & Ansgar Nünning) và thang đo mô phỏng – tường thuật về các dạng thức trình hiện diễn ngôn nhân vật của Brian McHale, tập trung vào diễn ngôn gián tiếp tự do, diễn ngôn trực tiếp và diễn ngôn trực tiếp tự do.

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính:

  • Phương pháp tự sự học: Phương pháp chủ đạo dùng để giải cấu trúc và phân tích các tầng bậc văn bản.
  • Phương pháp hệ thống kết hợp so sánh: Đặt sáng tác của Uông Triều trong đối sánh với thế hệ nhà văn Đổi mới và các tác giả trẻ cùng thời.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức phân tâm học và triết học hiện sinh để kiến giải nội dung chiều sâu của tác phẩm.
  • Các thao tác bổ trợ: Thống kê, phân loại, phân tích và tổng hợp dữ liệu từ 30 công trình nghiên cứu trước đó và từ 6 văn bản khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Khái quát về nghệ thuật tự sự và tác giả Uông Triều

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự sự học, lược thuật 3 giai đoạn phát triển: tiền kinh điển, kinh điển và hậu kinh điển; phân tích tính khả dụng của tự sự học cấu trúc trong nghiên cứu văn xuôi tự sự Việt Nam nhằm khắc phục lối phê bình cảm tính, ngoại quan. Tác giả làm rõ nội hàm bốn phạm trù: cốt truyện, nhân vật, tình huống tự sự (sự kết hợp giữa người trần thuật và điểm nhìn/tiêu điểm) và diễn ngôn tự sự.

Ở bình diện thực tiễn, chương này phác thảo bức tranh văn học Việt Nam đương đại từ sau năm 1986 với 4 đặc trưng nổi bật: tính thật (tinh thần phản tư), tính cá thể (hướng nội, giải mã cái tôi), tính nhân bản và tính mở (đa dạng hóa khuynh hướng, tiếp thu các thủ pháp hiện đại và hậu hiện đại). Tiến trình này được chia thành 2 chặng: chặng đầu (1986 đến giữa thập niên 90 - đổi mới tư duy) và chặng sau (từ giữa thập niên 90 đến nay - nỗ lực đổi mới lối viết và kiến tạo diễn ngôn). Trong bối cảnh đó, Uông Triều được nhận diện là cây bút thế hệ 7X say sưa thể nghiệm nghệ thuật, lựa chọn định hướng văn học tinh hoa, xem việc viết văn là hành trình sáng tạo không ngừng để xác lập phong cách riêng biệt.

Chương 2. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều

Chương 2 đi sâu khảo sát cấu trúc cốt truyện, nghệ thuật xử lý thời gian và phương thức xây dựng nhân vật qua các tác phẩm cụ thể:

  • Các kiểu cốt truyện:

    • Cốt truyện sự kiện: Tổ chức biến cố theo chuỗi nhân quả tương đối rõ nét ở một số truyện ngắn lịch sử ban đầu.
    • Cốt truyện tâm lý: Diễn tiến câu chuyện dịch chuyển theo xung đột nội tâm và biến động cảm xúc bên trong nhân vật.
    • Cốt truyện đa tuyến: Nổi bật với cấu trúc song hành "đẳng cấu bất đồng hình" trong tiểu thuyết Cô độc, phân chia hai tuyến truyện tương ứng với hai nửa đời sống soi chiếu lẫn nhau của nhân vật.
    • Cốt truyện lắp ghép: Thể hiện rõ trong Sương mù tháng Giêng khi kết hợp đa mảnh ghép: 4 màn kịch ngắn, 2 truyện ngắn, các đoạn tư liệu lịch sử và truyền thuyết dân gian, tạo nên cấu trúc văn bản phân mảnh và đa âm.
    • Cốt truyện lồng khung: Vận dụng thủ pháp siêu hư cấu trong tiểu thuyết Tưởng tượng và dấu vết (tương tác giữa 3 lớp trần thuật: nhân vật viết sách, đọc sách và đối thoại với chính mình) và truyện lịch sử Bạch Đằng hải khẩu, tạo không gian truyện kể đa tầng.
  • Nghệ thuật xử lý thời gian tự sự: Phá vỡ trật tự tuyến tính bằng các bước nhảy thời gian; ngưng đọng thời gian qua những bức tranh nội cảm; lặp lại sự kiện nhằm biểu hiện những ám ảnh tâm lý vô thức; kỹ thuật đồng hiện thời gian xóa nhòa ranh giới quá khứ – hiện tại (như trong các truyện ngắn Đêm cuối cùng ở Ngọa Vân, Giấc mộng Huyền Trân).

  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

    • Tô đậm lời nói, hành động cá biệt: Khắc họa các nhân vật nữ lịch sử với nét tính cách mạnh mẽ, táo bạo, chủ động và quyết liệt thay vì vẻ cam chịu truyền thống.
    • Kỹ thuật dòng ý thức: Tái hiện thế giới nội tâm bề bộn, các ảo giác, ẩn ức, ký ức đan xen trong Tưởng tượng và dấu vết, Người mê, Cô độc.
    • Mờ hóa nhân vật: Xóa mờ lai lịch, nhân thân, ngoại hình cụ thể để biến nhân vật thành các biểu tượng, "cái bóng" trừu tượng mang tính nhân vị và triết lý.

Chương 3. Nghệ thuật kiến tạo tình huống tự sự và diễn ngôn tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều

Chương 3 phân tích hai bình diện biểu hiện của cấp độ kể chuyện và diễn ngôn:

  • Nghệ thuật kiến tạo tình huống tự sự:

    • "Đấng bề trên toàn tri": Tình huống tự sự dị thuật kết hợp tiêu điểm zero, người kể chuyện đứng ngoài và biết hết mọi biến cố, suy nghĩ của các nhân vật, xuất hiện chủ yếu trong mảng truyện ngắn lịch sử.
    • "Kẻ dị thuật thấu cảm": Người trần thuật ngôi thứ ba nhưng sử dụng nội tiêu điểm (tiêu điểm bên trong), di chuyển linh hoạt vào tâm tư của nhân vật trung tâm để quan sát và diễn giải thế giới (tiêu biểu trong tiểu thuyết Người mê).
    • "Người đồng thuật giãi bày": Người trần thuật ngôi thứ nhất (tự thuật) mang nội tiêu điểm trong Tưởng tượng và dấu vết và Cô độc, bộc lộ trực tiếp cái tôi nội cảm, những dằn vặt hiện sinh và tính chủ quan của trải nghiệm cá nhân.
  • Nghệ thuật kiến tạo diễn ngôn tự sự:

    • Diễn ngôn gián tiếp tự do: Sự xâm nhập và hòa trộn giữa lời người trần thuật và lời/suy nghĩ của nhân vật, tạo nên tính phức điệu, đa thanh và tính mơ hồ về chủ thể phát ngôn trong văn bản.
    • Diễn ngôn trực tiếp: Các cuộc đối thoại mang tính tư tưởng, đối thoại soi chiếu giữa các nhân vật nhằm tranh biện về các vấn đề hiện sinh, lịch sử, đời sống và nghệ thuật.
    • Diễn ngôn trực tiếp tự do: Lược bỏ các dấu hiệu hình thức (dấu gạch đầu dòng, dấu ngoặc kép), hòa nhập trực tiếp lời nói nhân vật vào dòng chảy trần thuật, phản ánh chất sống tự nhiên và tạo độ liền mạch cho tâm lý (như cấu trúc thoại trong Cô độc).

Kết quả và đóng góp

  • Tổng thuật lịch sử nghiên cứu: Khảo sát và lập bảng thống kê 30 công trình nghiên cứu về Uông Triều; chỉ ra thực trạng nghiên cứu trước đó phần lớn là các bài điểm sách, bài báo ngắn (chiếm 93,33%), trong khi các công trình dày dặn, có tính hệ thống chỉ chiếm 6,67% (02 công trình). Khóa luận đã lấp đầy khoảng trống này bằng một công trình chuyên khảo toàn diện.
  • Kết quả khảo sát nghệ thuật tự sự:
    • Xác lập bản đồ các kiểu cấu trúc cốt truyện của Uông Triều, chứng minh sự phong phú từ cốt truyện sự kiện, cốt truyện tâm lý đến các mô hình hiện đại/hậu hiện đại như cốt truyện song hành đẳng cấu, cốt truyện lắp ghép phân mảnh và cốt truyện lồng khung siêu hư cấu.
    • Làm rõ cơ chế vận hành của thời gian tự sự phi tuyến tính và nghệ thuật dòng ý thức trong việc khắc họa thế giới nội tâm con người.
    • Nhận diện đầy đủ 3 dạng tình huống tự sự và 3 hình thức diễn ngôn nhân vật giàu giá trị thẩm mỹ (diễn ngôn gián tiếp tự do, trực tiếp, trực tiếp tự do).
  • Đóng góp khoa học tự nêu: Khóa luận là công trình nghiên cứu có hệ thống và bao quát đầu tiên vận dụng lý thuyết tự sự học cấu trúc để tiếp cận toàn bộ văn xuôi (truyện ngắn và tiểu thuyết) của Uông Triều; cung cấp những căn cứ khoa học xác thực nhằm nhận diện phong cách nghệ thuật, đóng góp cách tân cũng như định vị vị trí của nhà văn trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Phạm vi khảo sát dừng lại ở 6 tác phẩm (4 tiểu thuyết, 2 tập truyện ngắn) xuất bản đến năm 2022, chưa bao quát các thể loại phi hư cấu khác của tác giả như tập tản văn Hà Nội – Dấu xưa, phố cũ (2020).
    • Khung lý thuyết chủ yếu giới hạn trong tự sự học kinh điển/cấu trúc, chưa kết hợp sâu với các phân nhánh tự sự học hậu kinh điển (như tự sự học nhận thức, tự sự học tu từ học hay tự sự học nữ quyền).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tác phẩm mới xuất bản của Uông Triều trong tương lai.
    • Ứng dụng các lý thuyết liên ngành như thi pháp học tiếp nhận, phân tâm học văn học hoặc mỹ học hậu hiện đại để giải mã sâu hơn các tầng nghĩa triết học và cơ chế tiếp nhận của bạn đọc đối với tác phẩm Uông Triều.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Giảng viên, sinh viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học; học viên cao học và nghiên cứu sinh thực hiện đề tài về văn học Việt Nam đương đại hoặc nghiên cứu ứng dụng tự sự học.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng:
    • Hệ thống hóa các thuật ngữ và mô hình tự sự học cấu trúc theo tiêu chuẩn học thuật quốc tế (Gérard Genette, Seymour Chatman, Brian McHale...).
    • Thao tác mẫu về việc sơ đồ hóa và bảng biểu hóa cấu trúc tự sự (mô hình cốt truyện, phân loại tình huống tự sự, thang đo diễn ngôn).
    • Nguồn tư liệu thư mục tổng hợp 30 công trình nghiên cứu về tác giả Uông Triều.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát những tác phẩm cụ thể nào của nhà văn Uông Triều?
Khóa luận khảo sát toàn bộ 6 ấn phẩm đã xuất bản của Uông Triều tính đến năm 2022, gồm 4 tiểu thuyết: Tưởng tượng và dấu vết (2014), Sương mù tháng Giêng (2015), Người mê (2016), Cô độc (2019) và 2 tập truyện ngắn: Đêm cuối cùng ở Ngọa Vân (2012), Bò hoang phố cổ (2019).

2. Tác giả khóa luận tiếp cận cấu trúc tự sự theo mô hình lý thuyết nào?
Tác giả tiếp cận theo mô hình tam phân cấu trúc tự sự của tự sự học cấu trúc (Gérard Genette, Shlomith Rimmon-Kenan, Luc Herman & Bart Vervaeck) gồm 3 cấp độ: Câu chuyện (story/histoire - chuỗi sự kiện trừu xuất), Cốt truyện (narrative/récit - sự kiện được tổ chức trên bề mặt văn bản) và Kể chuyện (narration - hành vi và cách thức kể chuyện).

3. Những kiểu cốt truyện đặc thù nào của Uông Triều được phân tích sâu trong khóa luận?
Khóa luận chỉ ra và phân tích 5 kiểu cốt truyện: cốt truyện sự kiện, cốt truyện tâm lý, cốt truyện đa tuyến (tiêu biểu là song hành đẳng cấu trong Cô độc), cốt truyện lắp ghép phân mảnh (trong Sương mù tháng Giêng kết hợp kịch ngắn và tư liệu lịch sử) và cốt truyện lồng khung mang tính siêu hư cấu (trong Tưởng tượng và dấu vết và Bạch Đằng hải khẩu).

4. Khóa luận phân loại tình huống tự sự trong tác phẩm Uông Triều thành những dạng nào?
Dựa trên sự kết hợp giữa người kể chuyện (Thái) và tiêu điểm trần thuật (Thức) theo Gérard Genette, khóa luận phân chia thành 3 dạng tình huống tự sự chính: "Đấng bề trên toàn tri" (người kể chuyện dị thuật + tiêu điểm zero), "Kẻ dị thuật thấu cảm" (người kể chuyện ngôi thứ ba + nội tiêu điểm) và "Người đồng thuật giãi bày" (người kể chuyện tự thuật ngôi thứ nhất + nội tiêu điểm).

5. Vì sao khóa luận khẳng định các nghiên cứu trước về Uông Triều còn nhiều khoảng trống?
Qua thống kê 30 công trình nghiên cứu trước đó, tác giả chỉ ra có tới 28 bài viết là dạng bài báo ngắn, điểm sách, ghi nhận cảm nhận bề mặt văn bản (chiếm 93,33%); chỉ có 2 công trình nghiên cứu có tính hệ thống (chiếm 6,67%), do đó chưa có công trình nào khảo sát toàn diện và chuyên sâu về thi pháp tự sự của tác giả.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mai Hoàng Phương là công trình nghiên cứu văn học có tính hệ thống, ứng dụng chặt chẽ lý thuyết tự sự học cấu trúc để phân tích toàn diện truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều. Thông qua việc giải mã 4 bình diện cốt truyện, nhân vật, tình huống tự sự và diễn ngôn tự sự, công trình đã làm sáng tỏ những thể nghiệm cách tân độc đáo cũng như phong cách nghệ thuật của một tác giả tiêu biểu thuộc thế hệ nhà văn trẻ đương đại. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao về cả phương pháp luận tự sự học lẫn tư liệu nghiên cứu văn học Việt Nam sau năm 1986.