Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ TÁC GIẢ UÔNG TRIỀU 1. Khái quát về nghệ thuật tự sự 1. Tự sự và tự sự học Tự sự (narrative – gốc động từ tiếng Latin: narrare), theo cách hiểu phổ biến nhất, là việc (ít nhất) một người dùng một loại kí hiệu nhất định (ngôn ngữ, điệu bộ, hình ảnh,…) kể lại một hay một chuỗi sự kiện có thật hoặc hư cấu cho (ít nhất) một người khác (Onega & Landa, [1996] 2014, tr.2; Trần Đình Sử et al. Đây là phương thức sinh hoạt giải trí đầu tiên của con người và được coi là một đặc trưng cơ bản của nhân loại: “tự sự bỏ qua mọi cách biệt giữa văn học có giá trị hay tầm thường, xé bỏ những rào cản về văn hoá, lịch sử, dân tộc, nó tồn tại trong thế giới như chính bản thân cuộc sống” (Barthes, 2019, tr.
Thông qua tự sự, con người biểu đạt ý nghĩ của mình và giao tiếp với mọi người xung quanh; vì vậy, tự sự đã cấu thành nên nhiều phương diện quan trọng của văn hóa và bản sắc con người. Chính vì tự sự đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, tự sự học (narratology/narratologie) đã ra đời với tư cách là một hệ thống lí thuyết mang tính kĩ thuật nhằm giúp người ta tiếp nhận văn bản tự sự một cách hiệu quả. Thuật ngữ “narratology” được dịch theo nhiều cách khác nhau ở Việt Nam và Trung Quốc: ở Việt Nam, nó được dịch là “tự sự học” và “trần thuật học”; ở Trung Quốc, nó được dịch là “tự sự học” và “tự thuật học”. Hai thuật ngữ “trần thuật học” và “tự thuật học” có nội hàm tương đương nhau và khi sử dụng chúng, người ta phần lớn đặt trọng tâm nghiên cứu vào hành vi tự sự.
Ở đây, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “tự sự học” vì bộ môn này “bao gồm cả phần lí thuyết cấu trúc văn bản tự sự, cấu trúc sự kiện, vừa bao gồm cả phần nghiên cứu các hình thức và truyền thống tự sự trong các nền văn học dân tộc cũng như sự so sánh chúng với nhau” (Trần Đình Sử, 2017, tr. 15 Đến nay, tự sự học đã hình thành và phát triển trong một thời gian khá dài, nhưng nhìn chung, lấy chủ nghĩa cấu trúc làm cột mốc, có thể chia làm ba chặng: giai đoạn tiền kinh điển/tiền cấu trúc (trước 1960), giai đoạn kinh điển/cấu trúc (1960 – 1980) và giai đoạn hậu kinh điển/hậu cấu trúc (1980 – nay). Giai đoạn tiền kinh điển nghiên cứu các thành phần và chức năng của tự sự. Việc này đã được Platon và Aristotle đặt nền móng bằng việc phân biệt giữa mô phỏng (mimesis) và tường thuật (diegesis) cũng như những lí thuyết ban đầu về cốt truyện (mythos).
Đến khoảng đầu thế kỉ XX, sự nổi lên của chủ nghĩa hình thức Nga với các đại biểu như V.v… đã đặt nền móng cho sự phát triển của tự sự học kinh điển sau này: lí thuyết motif cố định/tự do là tiền đề để R. Barthes phân biệt sự kiện hạt nhân và sự kiện xúc tác; sự phân biệt fabula/siuzhet là cơ sở để phân biệt câu chuyện (story) và cốt truyện (narrative/plot); lí thuyết chức năng của V. Greimas nghiên cứu vai hành động của nhân vật; lí thuyết đối thoại của M. Bakhtin có tác động đáng kể đến việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật cũng như sự thể hiện lời nói, suy nghĩ trong văn bản tự sự.
Ngoài ra, còn phải kể đến những đóng góp của các học giả Anh – Mỹ như Perry Lubbock với Kĩ thuật hư cấu (The Craft of Fiction, 1921), Edward Forster với Những khía cạnh của tiểu thuyết (Aspects of the Novel, 1927) and Henry James với Nghệ thuật của tiểu thuyết (The Art of the Novel, 1934), v.v… Giai đoạn kinh điển chủ yếu dựa vào lí thuyết ngôn ngữ để nghiên cứu cấu trúc và cách tổ chức văn bản tự sự từ bề mặt tới bề sâu ở ba cấp độ: kể chuyện (narration), cốt truyện (narrative) và câu chuyện (story). Những đại biểu chủ chốt của giai đoạn này là Claude Bremond, Algirdas Greimas, Tzvetan Todorov, Roland Barthes và Gérard Genette; ngoài ra còn có những tác giả tiếp nối và phát triển như Gerald Prince, Seymour Chatman, Dorrit Cohn, Susan Lanser, v.v… Trong công trình Phân tích tự sự (Narrative Analysis), Martin Cortazzi đã chỉ ra 5 đặc điểm của tự sự học kinh điển như sau: (1) tự sự học là một môn học độc lập nghiên cứu ngữ pháp truyện kể khi coi “truyện kể như một cấp độ độc lập cụ thể trong tổ chức ngữ nghĩa của văn bản với các nguyên 16 tắc và khuôn mẫu bất biến riêng của nó”3; (2) chú trọng phân biệt câu chuyện (story) và diễn ngôn (discourse); (3) dựa vào ngữ pháp tạo sinh để nghiên cứu cấu trúc bề mặt (surface structure) – “sự biểu thị bằng chuỗi từ hoặc văn bản cụ thể” – và cấu trúc bề sâu (deep structure) – “một cấp độ tự sự trừu tượng mà từ đó văn bản bề mặt được tạo ra bằng cách sử dụng các quy tắc và đơn vị (ngữ pháp – M.P) được chọn lọc”4; (4) nỗ lực thiết lập khái niệm về vai hành động và các loại chức năng; (5) chú tâm tới các chuỗi, sự kết hợp và tầng bậc của các đơn vị tự sự (Cortazzi, [1993] 2002, tr. Tự sự học hậu kinh điển không phủ định mà kết hợp tự sự học kinh điển với “những phương pháp luận mới và những giả thuyết nghiên cứu mới; kết quả là ta có một loạt những quan điểm mới về các hình thức và chức năng của tự sự” (David Herman – dẫn theo Trần Đình Sử et al. Nói cách khác, nó mang tính mở nhiều hơn, đón nhận nhiều trào lưu lí thuyết khác ngoài nó, mang đến triển vọng nghiên cứu liên ngành đầy thú vị: tự sự học nữ quyền (feminist narratology), tự sự học tri nhận (cognitive narratology), tự sự học hậu thực dân (postcolonical narratology),… Thêm nữa, tự sự học hậu kinh điển còn “khai thác khả năng của những mô hình cũ hơn” (David Herman – dẫn theo Trần Đình Sử et al.233) nhưng tập trung vào khía cạnh tu từ của tự sự, tức là nghiên cứu những chiến lược thuyết phục, lôi cuốn độc giả: Wayne Booth đã kế thừa và phát triển lí thuyết của Lubbock, Friedman và James để tạo nên xu hướng này trong công trình Tu từ học tiểu thuyết (Rhetoric of Fiction, 1961); sau này, James Phelan tiếp tục hướng đi của Booth.
Trong khoá luận này, chúng tôi tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều theo lí thuyết của tự sự học kinh điển/cấu trúc, nên tất yếu, việc khái lược về cấu trúc của tự sự – vấn đề cốt lõi của tự sự 3 Within this study, an effort is made to define narrative as a specific autonomous level in the semantic organization of texts with its own rules and invariant patterns. 4 This is derived from linguistics to give the notion of surface narrative structures, the actual string of words or text manifested, and deep narrative structures, an abstract level of narrative from which the surface text is generated using selections of rules and units corresponding to a generative sentence grammar (Greimas, 1971, p. 17 học cấu trúc – là cần thiết vì nó chi phối toàn bộ những khái niệm công cụ bên dưới. Vấn đề cấu trúc của tự sự đã được các nhà nghiên cứu tranh luận trong một thời gian dài, cũng đồng nghĩa với việc có nhiều khác biệt trong quan niệm và cách định danh, nhưng nhìn chung, có hai khuynh hướng: lưỡng phân và tam phân.
Những người chủ trương lưỡng phân như các nhà hình thức Nga, Tzvetan Todorov (1966),… cho rằng tự sự bao gồm nội dung (câu chuyện) và hình thức (cốt truyện); còn những người chủ trương tam phân như Gérard Genette (1972, 1980)5, Mieke Bal (1977, 1985), Shlomid Rimmon-Kenan (1983),… thì cho rằng ngoài hai yếu tố trên còn có hành vi tự sự (kể chuyện). Trong mỗi khuynh hướng thì cách định danh thuật ngữ của các nhà nghiên cứu cũng có nhiều khác biệt. Quan niệm và thuật ngữ của các nhà nghiên cứu trên được hệ thống trong bảng sau: Bảng 1. Hệ thống các thuật ngữ về cấu trúc tự sự Câu chuyện Cốt truyện Kể chuyện Trường phái hình thức Nga fabula siuzhet Todorov (1966) histoire discours Genette (1972) histoire récit narration Bal (1977) (bản tiếng Pháp) histoire récit texte Bal (1985) (bản tiếng Anh) fabula story text Rimmon-Kenan (1983) story text narration Từ bảng trên có thể thấy, vấn đề nội dung và hình thức của tự sự được đông đảo các nhà nghiên cứu tán thành, chỉ có vấn đề hành vi tự sự là còn tranh cãi.
Ở đây, chúng tôi cho rằng hành vi tự sự cũng là một thành tố trong cấu trúc của tự sự, vì đó là nguồn gốc nảy sinh hình thức tự sự, chi phối tất cả mọi thủ 5 Trong công trình Diễn ngôn tự sự (1980), Genette đã phân tích ba hàm nghĩa của tự sự: (1) “sự trình bày bài tường thuật, diễn ngôn nói hoặc viết kể một sự kiện hoặc một chuỗi sự kiện”; (2) “chuỗi sự kiện, thực hoặc hư cấu, là đối tượng của diễn ngôn, và các mối quan hệ giữa chúng như liên kết, đối lập, trùng lặp, v.v…”; (3) “hành động kể” (Genette, 1980, p. Ba hàm nghĩa này, theo Genette, tương ứng với ba cấp độ của tự sự lần lượt được định danh tương ứng như sau: (1) cốt truyện (narrative/récit), (2) câu chuyện (story/histoire), (3) kể chuyện (narration). 18 pháp tự sự: “Nếu không có hành vi tự sự thì sẽ không có lời kể, thậm chí đôi khi không có cả nội dung tự sự” (Genette, 1980, tr. Như vậy, tự sự bao gồm ba thành tố: câu chuyện (story) – cốt truyện (narrative) – kể chuyện (narration).
Trong đó, câu chuyện là cấp độ trừu tượng nhất, được người đọc trừu xuất ra sau khi đọc văn bản; cốt truyện là cấp độ cụ thể hoá câu chuyện bằng các sự kiện được trình bày trực tiếp trên văn bản theo ít nhất một góc độ nhận thức nhất định; kể chuyện là cấp độ cho biết cách thức cụ thể mà câu chuyện được kể. Ba thành tố này tạo thành thế “tam diện nhất thể, chúng đồng sinh đồng tồn” (Lê Thời Tân, 2015, tr. Kế thừa thành tựu của các công trình trước, Luc Herman và Bart Vervaeck ([2001] 2005) đã xây dựng mô hình cấu trúc của tự sự như sau: 1. Kể chuyện (Narration) - Sự kể (Narrating) - Sự trình hiện ý thức (Representation of consciousness) Việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Uông Triều được triển khai chủ yếu dựa vào mô hình cấu trúc này.