CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ TIỂU THUYẾT CỌP TRẮNG 1. Khái lược về nghệ thuật tự sự 1. Khái niệm về tự sự học Cần phân biệt tự sự học và trần thuật học, trần thuật học vốn là một thuật ngữ của cú pháp học. Trần thuật học trong ý thức của một số nhà nghiên cứu chỉ đề cập đến nghiên cứu diễn ngôn, lời kể với những người kể, điểm nhìn,… tuy nhiên tự sự học lại bao gồm cả hệ thống sự kiện, cách tổ chức sự kiện đó, kết cấu, các mô típ truyện,… những vấn đề lớn hơn trần thuật rất nhiều.
Đồng thời khái niệm tự sự từ trước đến nay không chỉ riêng loại hình nghệ thuật tự sự, phân biệt với trữ tình và kịch. Tự sự có thể hiểu là một phương thức biểu đạt mà văn học, báo chí, thông tin, lịch sử đều sử dụng. Tự sự học (Narratalogy) là một nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng để nghiên cứu. Tự sự học xuất hiện từ khoảng những năm 70 của thế kỉ XX.
Tên gọi tự sự học được đề xuất năm 1969 bởi nhà nghiên cứu người Pháp Tz.Todorov trong sách Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”, đã làm cho ngành nghiên cứu tự sự trước nay được một cái tên chính thức và trở thành một khoa nghiên cứu có tính độc lập vì nội hàm văn của nó. Sau đề xuất của nhà nghiên cứu, “lí luận tự sự đã thay thế cho lí luận về tiểu thuyết và trở thành một vấn đề chủ yếu của nghiên cứu văn học. Nó trở thành một bộ môn nghiên cứu liên ngành, có tính quốc tế và có vị trí ngày càng quan trọng trong ngành” [18; tr. 12] Tự sự học đã có dấu hiệu sơ khai từ thời ký cổ đại của văn minh châu Âu, với những quan điểm phân loại các bộ môn/ thể loại nghệ thuật của Platon, Aristote., người ta đã sớm phân biệt được các loại tự sự, tuy nhiên phạm vi quan tâm chỉ giới hạn ở tu từ học.
Song, nghiên cứu tự sự học thực sự bắt đầu khi được hình thành tại Pháp ở những năm 60-70 của thế kỉ XX và dần lan rộng trên thế giới. Đến những 13 năm 80-90 và cho đến nay tự sự đã từ giai đoạn kinh điển của chủ nghĩa cấu trúc bước sang giai đoạn hậu kinh điển, mở ra nhiều giả thiết nghiên cứu, cách nhìn, phương pháp mới. Đó chính là một quá trình thay đổi hệ hình lí thuyết, các tầng bậc và phương pháp nghiên cứu của tự sự. Về khái niệm tự sự học, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau.
Todorov cho rằng: “tự sự học là lí thuyết về cấu trúc của tự sự. Để phát hiện cấu trúc và miêu tả cấu trúc ấy, người nghiên cứu tự sự đem hiện tượng tự sự chia thành các bộ phận hợp thành, sau đó cố gắng xác định chức năng và mối quan hệ qua lại giữa chúng” [19; tr. Còn theo nhà nghiên cứu Hà Lan Mieke Bal, khi kết hợp nghiên cứu cấu trúc chuyện với văn bản, đã đưa ra định nghĩa về tự sự học “là lí luận về trần thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, hình ảnh sự vật, sự kiện cùng sản phẩm văn hoá “kể chuyện”” [19; tr. Bà đã chia tự sự ra làm ba tầng bậc khác nhau: văn bản trần thuật (narrative text), chuyện kể (story), chất liệu (fabula).
Công trình của Mieke Bal được đánh giá là đã cung cấp một hệ thống khái niệm được định nghĩa khá chính xác, chặt chẽ và hệ thống, có thể làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu tự sự. Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu tự sự học cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về tự sự học. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “Tự sự là một phương thức tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời của con người.
Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào cho rằng “tự sự là một khái niệm rất rộng và có thể xét ở hai bình diện. Bình diện thứ nhất, tự sự như sự đồng nghĩa với “câu chuyện kể”, đối lập miêu tả. Bình diện thứ hai, tự sự được xem xét theo hành động kể chuyện –như vậy, ít nhất, đã bao hàm vấn đề người kể chuyện (điểm nhìn, giọng điệu), người tiếp nhận” [4; tr. Trần Đình Sử - một nhà nghiên cứu rất tâm huyết với tự 14 sự học – đã xem tự sự học là một nhánh của thi pháp học hiện đại nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và các vấn đề liên quan.
Ông phân biệt “cấu trúc lời văn”, “cấu trúc sự kiện”, phân biệt giữa “kể cái gì” và “kể như nào”. Trần Đình Sử định nghĩa về tự sự học “bao gồm cả hệ thống sự kiện, cách tổ chức các sự kiện đó, các mô típ truyện, sự phân loại chúng, lịch sử vận động của tự sự…” [18; tr. 8] và “đối tượng của tự sự học ngày nay không còn chỉ là ngữ pháp tự sự nói chung mà còn là thi pháp tự sự, phong cách học tự sự của các tác phẩm cụ thể, ngôn ngữ tự sự của các thể loại tự sự, các loại hình tự sự, mô hình tự sự của các giai đoạn phát triển văn học, sự tiếp nhận tự sự và cách tác động đến người đọc của tự sự” [20; tr. Tóm lại, qua các khái niệm trên có thể khái quát nghệ thuật tự sự là cách thức cấu trúc, tổ chức và triển khai văn bản tự sự.
Khi nghiên cứu nghệ thuật tự sự của một tác phẩm, một hiện tượng văn học là tìm hiểu văn bản tự sự đó trên nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau. Hiện nay, khi nghiên cứu nghệ thuật tự sự của một tác phẩm văn học, các nhà nghiên cứu sẽ tập trung vào việc nghiên cứu những khía cạnh nổi bật như: tổ chức cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện và ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật. Những đóng góp của tự sự học trong nghiên cứu văn học Tự sự học được coi là một lĩnh vực tri thức rộng lớn và có lịch sử lâu đời, như một “bộ công cụ cơ bản nhất giúp cho người ta có thể đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứ điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa” [18; tr. Đây được coi là ngành khoa học có vai trò quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu văn học bởi đối tượng trực tiếp và đầu tiên mà tự sự học nghiên cứu hướng đến chính là những tác giả, tác phẩm, các hiện tượng văn học.
Trong bài viết “Tự sự học – một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng”, GS.Trần Đình Sử đã chỉ ra những đóng góp to lớn của tự sự học hỗ trợ cho công cuộc nghiên cứu văn học, giúp các nhà nghiên cứu quan sát cơ chế nghệ thuật của tự sự một cách cụ thể. 15 Nghiên cứu tự sự học có một ý nghĩa văn hoá rộng lớn, giúp hiểu rõ mọi thức tự sự, nghệ thuật và phi nghệ thuật. Trong vai trò với văn học, việc nghiên cứu tự sự học “mở ra khả năng nghiên cứu truyền thống tự sự trong mỗi nền văn học” [18; tr. Sự phát triển nhanh chóng của ngành khoa học lí luận văn học này đã thu hút nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự tại Việt Nam nói chung và bộ môn văn học Ấn Độ nói riêng.
Tự sự học trong quá trình phát triển vừa qua đã cho thấy vai trò, ý nghĩa lớn lao của tự sự học trong nghiên cứu văn học. Aravind Adiga và tiểu thuyết Cọp trắng Tác giả Aravind Adiga sinh năm 1974 tại Madras, Ấn Độ. Anh lớn lên ở Mangalore, đến năm 16 tuổi thì di cư sang Sydney với gia đình. Aravind Adgia bắt đầu sự nghiệp chữ nghĩa bằng nghề ký giả, viết báo cho tờ Financial Times, Money và Wall Street Journal, đảm trách mảng thị trường chứng khoán và đầu tư.
Sau đó anh chuyển sang làm cho tờ báo Time được ba năm rồi trở thành phóng viên tự do. Một số tác phẩm đáng chú ý của nhà văn: The White Tiger (Cọp trắng), Between the Assassinations (Giữa những cuộc mưu sát), Last Man in Tower (Người cuối cùng trong tòa tháp), Selection Day (Ngày được chọn), Amnesty (Ân xá). Bản thảo đầu tiên của Cọp trắng được tác giả viết vào năm 2005 rồi sau đó bị xếp xó. Sau khi trở lại Ấn Độ vào tháng 12 năm 2006, Aravind Adiga đã đi du lịch khắp đất nước, sau đó ông bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết.
Quyển sách này hoàn toàn là hư cấu, không có chi tiết nào trong truyện thành sự thực cả. Tuy nhiên nó lại được xây dựng trên nền tảng thực tế của Ấn Độ, đó là những bệnh viện nhà nước, những cửa hàng rượu, những nhà chứa được lấy từ thực tế. Với cách nhìn đầy tính hiện thực, Adiga đã phân tích rạch ròi những cái được và mất trong sự ảnh hưởng từ các quan niệm, sự phân tầng giai cấp ăn sâu trong tiềm thức của người dân Ấn Độ. Tác giả cũng đã lí giải các giá trị đạo đức truyền thống và ngầm đề đạt các giá trị mới về con người.
16 Cọp trắng kể về quá trình lập nghiệp của nhân vật Balram Halwai, con trai của một người phu xe đến từ một làng quê nghèo Laxmangarh Ấn Độ. Trình bày dưới hình thức của một bức thư viết trong bảy đêm gửi thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Đó là câu chuyện của một câu bé thông minh lanh lợi, nhưng phải nghỉ học để đi làm tại quán trà, rồi trở thành tài xế cho con trai địa chủ và sau đó trở thành một doanh nhân thành đạt tại Bangalore. Balram dẫn dắt người đọc đi qua hai Ấn Độ, một Ấn Độ “Ánh sáng”, một Ấn Độ “Bóng tối”.
Đó là một bên thế giới của tầng lớp thượng lưu, họ sống trong những căn hộ cao cấp, những toà biệt thự tráng lệ, giải trí bằng những thú tiêu khiển xa xỉ. Bên kia là thế giới của những người thuộc tầng lớp thấp kém, những con người nghèo khổ, bần cùng, bị khước từ những điều kiện cơ bản nhất như nước, điện, y tế. Balram Halwai trưởng thành từ “Bóng tối”, nhưng anh ta không cam tâm với cuộc sống nghèo khổ đến cuối đời và phải chết vì không được chữa bệnh như cha của mình. Kẻ được gọi là “Cọp trắng” đã chứng tỏ mình xứng đáng với tên gọi mà viên thanh tra giáo dục đặt cho - “loài vật trong rừng mà mỗi thế hệ chỉ có một con”.