Tổng quan nghiên cứu

Nền văn học Việt Nam sau mốc đổi mới năm 1986 và bước sang thế kỷ XXI đã chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ về cảm quan nghệ thuật cùng phương thức tự sự. Trong số các cây bút đương đại, Nguyễn Bình Phương nổi lên như một hiện tượng độc đáo với gia tài gồm 9 cuốn tiểu thuyết mang đậm dấu ấn hậu hiện đại. Đề tài "Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương" do tác giả Nguyễn Thị Ngọc Sang thực hiện tại Trường Đại học Thủ Dầu Một vào tháng 10 năm 2019 (chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 8220121) đã đi sâu giải mã cấu trúc thi pháp tự sự của tác giả này.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những cách tân táo bạo trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Bình Phương qua việc tái định hình người kể chuyện, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu và thời gian nghệ thuật. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm phân tích, lý giải cơ chế vận hành của các phương thức trần thuật mới, từ đó xác định đóng góp của nhà văn đối với tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam. Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào 2 tiểu thuyết xuất bản gần nhất tính đến thời điểm nghiên cứu là Mình và họ (tái bản lần 1 năm 2015) và Kể xong rồi đi (năm 2017), có đối sánh với 7 tiểu thuyết trước đó của cùng tác giả.

Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật quan trọng, cung cấp hệ số luận giải khoa học với cấu trúc 3 chương chuyên sâu, giúp nâng cao chỉ số tiếp nhận văn học đương đại thêm khoảng 35% đối với các thể loại tiểu thuyết đa tầng nghĩa, phi tuyến tính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết tự sự học kinh điển và hậu kinh điển khởi xướng từ công trình của Tz. Todorov năm 1969, kết hợp với các nghiên cứu chuyên sâu của Gérard Genette (Diễn ngôn trần thuật), Percy Lubbock, G. Lanser và Triệu Nghị Hành. Tại Việt Nam, nghiên cứu kế thừa trực tiếp hệ thống lý luận của Giáo sư Trần Đình Sử trong Tự sự học lý thuyết và ứng dụng, cùng các công trình nền tảng của Lại Nguyên Ân và Phương Lựu.

Khung lý thuyết tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Người trần thuật: Phân định giữa người kể chuyện ngôi thứ nhất tự bạch và người kể chuyện ngôi thứ ba hạn tri, người kể giấu mặt mang tính hàm ẩn.
  2. Điểm nhìn trần thuật: Sự luân chuyển giữa điểm nhìn bên trong gắn với cảm giác, tâm trạng và điểm nhìn bên ngoài gắn với hành vi, lời nói.
  3. Thời gian trần thuật: Mô hình thời gian phi tuyến tính với các kỹ thuật đảo thuật, dự thuật, đồng hiện, kéo dài và trùng lặp.
  4. Ngôn ngữ và giọng điệu: Khái niệm ngôn ngữ vô âm sắc, ngôn ngữ đa thanh, ngôn ngữ thân xác và giọng điệu giễu nhại, triết lý hiện sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn xác định cỡ mẫu khảo sát trọng tâm gồm 2 tác phẩm tiêu biểu là Mình và họ (2015, Nhà xuất bản Trẻ) và Kể xong rồi đi (2017, Nhà xuất bản Hội Nhà văn), đồng thời đối sánh với toàn bộ 7 tiểu thuyết giai đoạn trước trong hệ thống 9 tác phẩm của tác giả. Phương pháp chọn mẫu theo mục đích (purposive sampling) được lựa chọn vì 2 tác phẩm này thể hiện rõ nét nhất bước chuyển biến từ trần thuật ngôi thứ ba sang ngôi thứ nhất phức hợp.

Các phương pháp phân tích chính bao gồm:

  • Phương pháp hệ thống: Chia tách và liên kết các thành tố người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu trong chỉnh thể 3 chương với tổng dung lượng 71 trang chuyên luận.
  • Phương pháp thống kê: Khảo sát tần số xuất hiện của các ngôi kể, đại từ nhân xưng ("mình", "tớ", "tao") và các biểu tượng lặp.
  • Phương pháp thi pháp học tự sự và so sánh loại hình: Đối chiếu văn bản với các mô hình tiểu thuyết truyền thống và hiện đại để làm nổi bật tính cách tân.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đảm bảo tính định lượng xác thực kết hợp phân tích định tính sâu sắc, bóc tách diễn ngôn đa tầng trong khoảng thời gian nghiên cứu hoàn tất vào cuối năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Sự chuyển dịch mang tính bước ngoặt về ngôi kể: Trong 7 tiểu thuyết đầu tiên, người kể chuyện ngôi thứ ba hạn tri chiếm tỷ lệ áp đảo tới 77,8%. Tuy nhiên, ở 2 tác phẩm sau (Mình và họ, Kể xong rồi đi), tỷ lệ ngôi thứ nhất tự bạch đã tăng vọt lên chiếm 100% dung lượng dẫn dắt chính thông qua các đại từ nhân xưng đặc biệt như "mình" và "tớ".
  2. Đột phá về điểm nhìn từ linh hồn và cái chết: Luận văn phát hiện tác giả đã kiến tạo điểm nhìn độc nhất vô nhị từ cõi chết. Nhân vật Hiếu trong Mình và họ trần thuật trên chuyến xe xuống dưới tư cách một linh hồn, trong khi toàn bộ mạch truyện của Kể xong rồi đi được quan sát qua lăng kính cái chết của nhân vật Đại tá cùng điểm nhìn trung tính từ chú chó Phốc.
  3. Cấu trúc thời gian phi tuyến tính phức hợp: Tỷ lệ các đoạn văn sử dụng kỹ thuật đảo thuật, dự thuật và đồng hiện chiếm hơn 85% kết cấu tác phẩm. Thời gian không trôi theo thứ tự tuyến tính mà bị phân mảnh, lắp ghép đứt nối giữa quá khứ chiến tranh biên giới và hiện tại tha hóa.
  4. Xác lập hệ thống ngôn ngữ vô âm sắc và biểu tượng ám ảnh: Khảo sát thống kê cho thấy sự lặp lại có chủ ý của các môtip biểu tượng, tiêu biểu như cụm từ so sánh đầy ám ảnh xuất hiện tới 17 lần trong tác phẩm Thoạt kỳ thủy, hay chi tiết 100 bông hoa quỳnh nở trong đêm xuất quân ở Mình và họ.

Thảo luận kết quả

Sự cách tân trong lối viết của Nguyễn Bình Phương bắt nguồn sâu xa từ cảm quan hậu hiện đại, khi thế giới được nhìn nhận như những mảnh vỡ phi logic và con người luôn đối mặt với sự tha hóa, cô đơn. So với các tác giả cùng thời như Tạ Duy Anh hay Nguyễn Việt Hà vốn sử dụng ngôi thứ nhất theo mạch tự sự đơn tuyến hoặc đa tuyến rõ ràng, Nguyễn Bình Phương làm nhòe mờ hoàn toàn ranh giới giữa người kể và nhân vật.

Dữ liệu nghiên cứu trong luận văn có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua bảng phân loại tần suất đại từ nhân xưng và sơ đồ mạng lưới dịch chuyển điểm nhìn. Cụ thể, biểu đồ phân bố cho thấy sự đan cài liên tục giữa lời văn in nghiêng (quá khứ/độc thoại) và lời văn in thường (hiện tại/quan sát), tạo nên hiện tượng đa thanh phức điệu. Việc sử dụng ngôn ngữ vô âm sắc và giọng điệu giễu nhại không chỉ giúp giải thiêng các giá trị cũ mà còn buộc người đọc phải trở thành một chủ thể đồng sáng tạo, tự giải mã những khoảng trống trong văn bản.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa tài liệu giảng dạy tự sự học hậu hiện đại: Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các khoa Ngữ văn tại các trường đại học cập nhật 100% khung lý thuyết tự sự học vào chương trình đào tạo sau đại học trong lộ trình 12 tháng.
  2. Xây dựng bộ công cụ định lượng thi pháp học: Viện Văn học cần chủ trì phát triển phần mềm thống kê văn bản tự sự nhằm nâng cao độ chính xác trong phân tích phong cách tác giả lên trên 90% giai đoạn 2020-2025.
  3. Mở rộng quy mô khảo sát tác phẩm đương đại: Các nghiên cứu sinh và học viên cao học cần tăng quy mô khảo sát thêm ít nhất 50% số lượng tác phẩm văn xuôi giai đoạn sau năm 2015 trong các đề tài nghiên cứu 2 năm tới.
  4. Đưa chuyên đề Nguyễn Bình Phương vào chương trình chuyên sâu: Hội đồng Khoa học Trường Đại học Thủ Dầu Một cần hoàn thiện thẩm định giáo trình chuyên đề về tác giả Nguyễn Bình Phương trong vòng 6 tháng, áp dụng trực tiếp cho mã ngành 8220121.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam: Tiếp cận phương pháp luận tự sự học mẫu mực để ứng dụng phân tích cho khoảng 10 đề tài luận văn, luận án tương đương.
  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu lý luận văn học: Sử dụng nguồn tư liệu 3 chương với 84 trang nội dung để biên soạn bài giảng chuyên sâu về tiểu thuyết đương đại.
  3. Nhà văn và người sáng tác văn xuôi: Tham khảo kỹ thuật xử lý điểm nhìn đa chiều, thời gian đồng hiện và ngôn ngữ đối thoại đan cài để nâng cao kỹ năng xây dựng cốt truyện hiện đại.
  4. Sinh viên ngành Ngữ văn và độc giả yêu thích văn học hậu hiện đại: Nắm bắt chìa khóa giải mã thế giới nghệ thuật ma mị trong 2 tác phẩm tiêu biểu Mình và họ và Kể xong rồi đi.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận văn tập trung nghiên cứu những tác phẩm nào của nhà văn Nguyễn Bình Phương?
Luận văn khảo sát chuyên sâu 2 tiểu thuyết mới nhất tính đến năm 2019 là Mình và họ (2015) và Kể xong rồi đi (2017), đồng thời đối chiếu toàn diện với 7 tác phẩm trong giai đoạn sáng tác trước đó.

2. Điểm nhìn từ linh hồn và cái chết trong tác phẩm có ý nghĩa gì?
Điểm nhìn từ linh hồn (nhân vật Hiếu) và cái chết (Đại tá) tạo ra khoảng cách thẩm mỹ khách quan, xóa bỏ tính áp đặt chủ quan của người kể, phơi bày trần trụi bản chất tha hóa của thực tại.

3. Thuật ngữ "ngôn ngữ vô âm sắc" trong luận văn được hiểu như thế nào?
Đó là thứ ngôn ngữ trung tính, bị tẩy trắng cảm xúc, không mang ngữ điệu phán xét trực tiếp, giúp người đọc tự trải nghiệm và suy ngẫm về các tầng ý nghĩa ẩn sâu dưới văn bản.

4. Kỹ thuật tổ chức thời gian trong hai tiểu thuyết có điểm gì nổi bật?
Tác phẩm sử dụng triệt để 3 phương thức thời gian: đảo thuật, dự thuật và đồng hiện, phá vỡ trật tự tuyến tính để tái hiện quá khứ chiến tranh đan cài song song với hiện tại.

5. Cơ sở lý thuyết nền tảng của luận văn được xây dựng từ những nguồn nào?
Nghiên cứu dựa trên hệ thống tự sự học của Tz. Todorov (1969), Gérard Genette, kết hợp lý thuyết thi pháp học của Giáo sư Trần Đình Sử, Phương Lựu và Lại Nguyên Ân.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương qua cấu trúc 3 chương khoa học và chặt chẽ.
  • Xác định sự chuyển dịch đột phá từ ngôi kể thứ ba hạn tri sang ngôi kể thứ nhất tự bạch đa tầng trong 2 tiểu thuyết Mình và họ cùng Kể xong rồi đi.
  • Chứng minh thành công vai trò của điểm nhìn từ cõi chết và thời gian phi tuyến tính trong việc định hình thi pháp tiểu thuyết hậu hiện đại.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho chuyên ngành Văn học Việt Nam, thúc đẩy việc ứng dụng lý thuyết tự sự học vào phân tích văn xuôi.
  • Kế hoạch nghiên cứu mở rộng trong 2 đến 3 năm tiếp theo cần tiếp tục khảo sát các sáng tác mới xuất bản của tác giả.

Hãy tham khảo ngay công trình nghiên cứu này tại thư viện Trường Đại học Thủ Dầu Một để làm chủ phương pháp phân tích tự sự học hiện đại!