mở đầu, kết thúc cụ thể, có những tiểu thuyết có cốt truyện lỏng lẻo, lắp ghép, kết thúc mở gợi cho người đọc những suy tư và kêu gọi sự đồng sáng tạo. Bên cạnh đó, có những truyện dường như phi cốt truyện. Hành động chính trong Ông già và biển cả chỉ còn lại là cuộc săn tìm một con cá, cuộc đối thoại với trời mây, biển cả hoặc chính mình. Cốt truyện đã vận động thay đổi trong sự phát triển của thể loại, nghiên cứu sự vận động của cốt truyện sẽ góp phần lí giải kết cấu của tiểu thuyết.
Cho nên khi nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật sẽ là thiếu sót nếu bỏ qua cốt truyện.2 Ngƣời kể chuyện Người kể chuyện hay còn gọi là người trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng của trần thuật. Theo Pospelov thì người kể chuyện là “người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến, cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [51, tr. “Trong nghệ thuật kể, người kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay chưa từng được biết đến, mà là một vai trò tác giả nghĩ và ước định” [51, tr. Sự thống nhất giữa tác giả và người kể chuyện biểu hiện rõ nhất ở những tác phẩm có hình thức tự truyện.
Qua cái tôi của người kể chuyện, người đọc có thể thấy rõ cái tôi của tác giả ngoài đời. Đối với một tác phẩm tự sự, người kể chuyện có vai trò đặc biệt quan trọng. nó không chỉ dẫn dắt, kết nối, làm trung gian để bạn đọc kết nối với thế giới nghệ thuật mà còn có chức năng tổ chức, sắp xếp các sự kiện trong tác phẩm. Điều này chi phối tới việc lựa chọn ngôi kể của nhà văn.
Người kể chuyện là yếu tố thuộc thế giới miêu tả. Đó là một người do nhà văn tạo ra để thay mình thực hiện hành vi trần thuật. Người kể chuyện có thể được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ hai. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng tôi là một nhân vật trong truyện, chứng kiến các sự kiện đứng ra kể.
Hình thức này xuất hiện muộn vào những năm đầu thế kỉ XX, ở châu Âu. Nội dung kể không ra ngoài phạm vi hiểu biết của một người, thường gắn với quan điểm đánh giá riêng của nhân vật đó. Bakhtin cho rằng: “Trần thuật từ ngôi thứ nhất là tương tự với sự trần thuật của người kể chuyện. Đôi khi hình thức này do dụng ý dựa trên lời kể của kẻ khác quy định; đôi khi như lối kể của Tuôcghênhiep, nó có thể tiếp cận và cuối cùng là hòa nhập với lời trực tiếp của tác giả, tức là hoạt động với lời một giọng của ngôi thứ hai” [48, tr.
Người kể chuyện ngôi thứ ba, là hình thức người kể không xuất hiện trực tiếp mà ẩn mình, đứng bên ngoài văn bản, quan sát diễn biến của toàn bộ câu chuyện đã xảy ra một cách trọn vẹn và kể lại cho chúng ta. Người kể chuyện ngôi thứ hai, hình thức này ít xuất hiện trong tác phẩm văn học. Với ngôi kể thứ hai, tạo ra một không gian gián cách: một cái tôi khác, một cái tôi được kể ra, chứ không phải tự kể như ngôi thứ nhất.3 Điểm nhìn trần thuật Điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiện tượng trong tác phẩm. Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: “Điểm nhìn là vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm.
Là điểm rơi của cái nhìn vào khách thể”[19]. Nói vể vai trò của điểm nhìn, Pospelov cho rằng: “Trong tác phẩm tự sự điều quan trọng là tương quan giữa các sự vật với chủ thể trần thuật hay nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật với những gì mà anh ta miêu tả” [44, tr. Điểm nhìn trần thuật là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sáng tạo văn học, nó quy định và chi phối các thành tố khác của trần thuật như: Nhịp 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điệu trần thuật, thời gian trần thuật, đối tượng trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật….Sẽ không thể có trần thuật nếu không có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật. Banzac trong bộ Tấn trò đời đã thể hiện một cái nhìn toàn tri, người kể truyện biết tất cả.
Tác giả là người đứng ngoài quan sát và thu vào trong não cả một xã hội rộng lớn bao sự kiện từ năm 1829 – 1847 rồi kể lại. Điểm nhìn trần thuật biểu hiện qua các phương tiện nghệ thuật, ngôi kể, cách xưng gọi sự vật, cách dùng từ ngữ, kiểu câu. Tiểu thuyết ngày một phát triển, vấn đề điểm nhìn cũng ngày một phức tạp hơn. Điểm nhìn trần thuật được thể hiện qua ba phương thức: chủ quan, khách quan và liên chủ quan.
Là một cây bút tài năng không chỉ đảm bảo tính hợp lí về điểm nhìn mà cần phải biết vận dụng linh hoạt các điểm nhìn trần thuật góp phần tạo nên tính sinh động và sự hấp dẫn đặc biệt cho tác phẩm văn học. Theo giáo trình Lí luận văn học (GS Phương Lựu chủ biên), có thể phân biệt thành điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài: - Điểm nhìn bên trong: Người trần thuật nhìn thấy đối tượng qua lăng kính của một tâm trạng cụ thể, dễ dàng tái hiện diễn biến trong tâm hồn nhân vật. - Điểm nhìn bên ngoài: Chủ thể trần thuật giữ cái nhìn khách quan từ vị trí bên ngoài có khoảng cách nhất định với đối tượng trần thuật. Henry James trong Nghệ thuật văn xuôi (1884) xác lập điểm nhìn chính là “mô tả cách thức tồn tại của tác phẩm như một hành vi mang tính bản thể hoặc một cấu trúc hoàn chỉnh, tự trị đối với cá nhân nhà văn” [28].
Trong cuốn Bản chất của tự sự học, của R. Kellogg xuất bản lần đầu vào năm 1966, vấn đề điểm nhìn đã được xem xét như là một trong những yếu tố quan trọng tạo dựng cấu trúc tác phẩm và xác lập mô hình truyện kể: “Vấn đề châm biếm trong truyện kể là một chức năng của sự chênh lệch giữa ba hoặc bốn điểm nhìn này. Và những người nghệ sĩ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kể chuyện luôn sẵn sàng sử dụng sự không tương ứng này để tạo ra những ấn tượng riêng biệt” [45, tr. Một tác phẩm hay, hấp dẫn phụ thuộc và khả năng tạo xây dựng các điểm nhìn của tác giả.
Đồng thời thông qua điểm nhìn, người đọc có thể đi sâu vào tìm hiểu tác phẩm cũng như phong cách của nhà văn.4 Giọng điệu trần thuật Ngoài cốt truyện, người kể chuyện, điểm nhìn thì giọng điệu trần thuật là một trong những yếu tố cơ bản hình thành nên một tác phẩm tự sự. Một mặt, giọng điệu có vai trò liên kết các yếu tố hình thức tác phẩm tạo thành một âm hưởng, một tiếng nói với nhiều cấp độ, mặt khác nó biểu thị thái độ, cảm xúc, tư thế và tình cảm của chủ thể phát ngôn qua lời văn nghệ thuật. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với các hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn suồng sã, ngợi ca hay châm biếm. Giọng điệu phản ánh lập trường, tư tưởng, tình cảm, mà thị hiếu thẩm mỹ của tác giả có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và có tác dụng truyền cảm cho bạn đọc.
Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra được tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân vật” [19, tr 134].Khrapchencô, một nhà văn tài năng bao giờ cũng tạo ra cho mình một giọng điệu riêng, độc đáo và “đề tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường và giọng điệu nhất định đối với đối tượng sáng tác… Ví dụ, trong văn chương H.Murakami, khát vọng khám phá chiều sâu cuộc sống đã đặt các nhân vật vào những suy tư, dằn vặt, những lí giải về những vấn đề cốt lõi mang tính nhân sinh. Giọng điệu triết lí thể hiện những góc nhìn khác nhau của nhân vật. Đứng trước vấn đề sinh tử, nhân vật “tôi” trong “Đom đóm” khẳng định: “Tử không phải là đối cực của Sinh mà tồn tại như một phần của Sinh… Tử đã tồn tại sẵn bên trong. Và mọi người giống 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như đã hấp thụ Tử như hút một hạt bụi li ti vào sẵn trong phổi mình mà tiếp tục sống.
Từ trước tôi đã nhận thức Tử như một tồn tại độc lập, phân ly khỏi mọi thứ khác trên đời… Sinh hiện hữu ở phía bên này, còn Tử hiện hữu ở phía bên kia” [36, tr37-38]. Ngôn ngữ trần thuật là một trong những phương thức thể hiện giọng điệu của người viết. Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, thể hiện quan điểm của tác giả hay quan điểm của người kể chuyện đối với cuộc sống được miêu tả. Ngôn ngữ trần thuật mang tính chính xác, cá thể hoá.
Mỗi câu, mỗi chữ trong tác phẩm có thể chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, nhiều cách giải thích. Giọng điệu là một phạm trù thẩm mỹ, nó xuất hiện cùng với cảm hứng của tác giả khi nói tới một điều gì đó. Giọng điệu trong văn học không chỉ biểu hiện qua cách xưng hô, trường từ vựng, mà còn bằng cả hệ thống tư thế, cử chỉ, biểu cảm trong tác phẩm. Giọng điệu là yếu tố không nhỏ tạo nên phong cách của nhà văn và sức hấp dẫn của tác phẩm đối với bạn đọc.3 Vai trò của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Theo 150 thuật ngữ văn học của Nhà phê bình Lại Nguyên Ân thì tiểu thuyết là “Tác phẩm tự sự trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến đủ mức truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách.
Belinski gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời tư”, do chỗ nó “miêu tả những tình cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của con người” [1, tr. Tiểu thuyết là thể loại lớn tiêu biểu cho loại hình tự sự, “cỗ máy cái” của nền văn học hiện đại.