Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp Nghệ thuật sáng tác trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh do sinh viên Nguyễn Thị Thúy Hằng thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Mỹ Nhung, thuộc chuyên ngành Văn học, Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Võ Trường Toản (Hậu Giang, tháng 5 năm 2013). Đề tài tập trung nghiên cứu thi pháp và phương thức nghệ thuật tự sự trong hệ thống tác phẩm tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh – một trong những đại diện mở đường tiêu biểu của nền văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí lịch sử và giá trị hiện thực trong di sản văn học của Hồ Biểu Chánh:

  • Hồ Biểu Chánh (1885–1958) là tác gia lớn của vùng đất Nam Bộ với khối lượng tác phẩm đồ sộ, nhiều tiểu thuyết đã được chuyển thể thành phim truyền hình và lan tỏa sâu rộng trong đời sống văn hóa.
  • Sáng tác của ông phản ánh chân thực bức tranh xã hội miền Tây Nam Kỳ: từ nỗi khổ của người nông dân nghèo bị địa chủ, cường hào hà hiếp, đến cuộc sống đô thị phồn tạp; đồng thời lên án tệ bất nhân, cậy quyền thế và đề cao đạo lý làm người ("ở hiền gặp lành", giữ trọn nghĩa vợ tình chồng, hiếu nghĩa).
  • Tiểu thuyết của ông ghi lại chân thực phong tục, sinh hoạt và tính cách con người lục tỉnh bằng một phong cách hành văn tự nhiên, bình dị, giàu khẩu ngữ Nam Bộ.
  • Mặc dù vị trí của Hồ Biểu Chánh đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, việc tiếp tục khảo sát hệ thống phương thức nghệ thuật sáng tác (cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu) là yêu cầu khoa học cần thiết nhằm làm rõ đóng góp của ông trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Chỉ ra các dạng cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, cũng như đặc trưng ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh để làm rõ phong cách nghệ thuật của nhà văn.
  2. Xác định các phương thức nghệ thuật được tác giả sử dụng trong quá trình sáng tác, từ đó khẳng định vị trí và những đóng góp của Hồ Biểu Chánh đối với sự hình thành và phát triển của nền tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng và tiểu thuyết Việt Nam nói chung.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật sáng tác trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh trên các bình diện cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu.
  • Phạm vi tư liệu khảo sát: Khảo sát chọn lọc trên hệ thống tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh (trong tổng số 64 tiểu thuyết của ông), bao gồm: Chút phận linh đinh, Khóc thầm, Nợ đời, Cay đắng mùi đời, Cha con nghĩa nặng, Vì nghĩa vì tình, Nhơn tình ấm lạnh, Ngọn cỏ gió đùa, Ai làm được, Cười gượng, Tại tôi, Thầy thông ngôn, Chúa tàu Kim Quy, Con nhà nghèo...

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các công trình nghiên cứu lý luận văn học và lịch sử văn học Việt Nam:

  • Khái niệm thể loại tiểu thuyết: Tổng hợp các định nghĩa của Nguyễn Khuê (Chân dung Hồ Biểu Chánh), Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học), Phan Cự Đệ (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại), Phương Lựu (Lý luận văn học), và Phạm Quỳnh. Khóa luận tiếp cận tiểu thuyết như một thể loại tự sự cỡ lớn có khả năng dung nạp bức tranh hiện thực xã hội đa tầng, phản ánh số phận con người từ góc độ đời tư - thế sự.
  • Các đặc trưng thi pháp thể loại: Xem xét tiểu thuyết qua các phạm trù: cái nhìn đời tư không thi vị hóa hiện thực; nhân vật là "con người nếm trải" được miêu tả lập thể trong hoàn cảnh; cấu trúc cốt truyện (thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút); nghệ thuật kết cấu đa tuyến; ngôn ngữ tạo hình, cá thể hóa và sự đan kết giữa giọng điệu đơn thanh và song thanh.
  • Tổng quan lịch sử vấn đề: Khóa luận tiếp thu và trích dẫn các ý kiến đánh giá của Nguyễn Q. Thắng (Tiến trình văn nghệ miền Nam), Trần Hữu Tá (Một vài cảm nghĩ nhân đọc lại tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh), Huỳnh Thị Lan Phương (Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại 1), Thiếu Sơn (bài viết trên báo Phụ Nữ Tân Văn, số 106, 1931), và các tác giả Từ điển Văn học.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong văn bản:

  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Dùng để phân tích các ngữ cảnh trần thuật, tình huống truyện, chân dung nhân vật và lớp từ vựng địa phương, từ đó tổng hợp thành các đặc điểm phong cách nghệ thuật.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt từng yếu tố cốt truyện, loại hình nhân vật, lớp từ ngữ vào chỉnh thể cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm và toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh.
  • Phương pháp khái quát hóa: Rút ra các kết luận lý luận về thi pháp tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và quy luật vận động của tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỷ XX.

Nguồn dữ liệu khảo sát và thống kê: Dữ liệu văn bản từ hệ thống tác phẩm của Hồ Biểu Chánh gồm hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau.

Thể loại tác phẩm Số lượng văn bản thống kê Tác phẩm tiêu biểu được trích dẫn trong văn bản
Tiểu thuyết 64 tác phẩm Ai làm được (1912-1922), Chúa tàu Kim Quy (1922), Cay đắng mùi đời (1923), Cha con nghĩa nặng (1923), Nhơn tình ấm lạnh (1925), Thầy thông ngôn (1926), Con nhà nghèo (1930), Nợ đời (1936), Khóc thầm, Cười gượng, Vì nghĩa vì tình, Chút phận linh đinh, Tại tôi...
Khảo cứu, phê bình, biên khảo 28 tập Chưởng hậu quân Võ Tánh (1926), Chánh trị giáo dục (1938), Tùy bút thời đàm (1948), Gia Long khai quốc võ tướng (1944), Gia Long khai quốc văn thần (1944), Chấn hưng văn học Việt Nam (1944), Đông Châu liệt quốc chí bình nghị (1945)...
Truyện ngắn, truyện kể, đoản thiên, truyện vắn 12 tập Chị Hai tôi (1944), Một đóa hoa rừng (1944), Hai vợ (1955), Lòng dạ đàn bà (1955), Chuyện lạ trên rừng (1945), Truyền kì lục (1948)...
Hài kịch, ca kịch, tuồng hát, cải lương 12 vở Tình anh em (1922), Toại chí bình sinh (1922), Đại nghĩa diệt thân (1945), Thanh Lệ kì duyên (1926-1941), Công chúa kén chồng (1945), Xả sanh thủ nghĩa (1945), Hai khối tình (1943), Nguyệt Nga cống hồ (1943), Vì nước vì dân (1947)...
Ký, hồi ký 8 tập Kí ức cuộc đi Bắc Kì (1914), Mấy ngày ở Bến Súc (1944)...
Thơ và truyện thơ 5 tập U tình lục (1910), Vậy mới phải (1913)...
Dịch thuật 2 tác phẩm Tân soạn cổ tích (1910), Lửa ngúng (ngún) thình lình (1922), cùng các bản dịch cổ văn Trung Quốc (Tình Sử, Kim cổ kì quan).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Hồ Biểu Chánh và lí luận về tiểu thuyết

Chương 1 phác thảo tiểu sử, sự nghiệp và vị trí văn học sử của nhà văn Hồ Biểu Chánh, đồng thời thiết lập khung lý thuyết về thể loại tiểu thuyết:

  • Về cuộc đời: Hồ Biểu Chánh (tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; sinh ngày 01/10/1885 tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công – nay thuộc tỉnh Tiền Giang; mất ngày 04/11/1958 tại Phú Nhuận). Ông xuất thân trong gia đình nông dân, học chữ Nho từ 8 tuổi, học Quốc ngữ và Pháp văn tại trường Vĩnh Lợi lúc 12 tuổi, nhận học bổng vào trung học Chasseloup-Laubat (Sài Gòn) và thi đỗ Thành Chung năm 1905. Từ năm 1906 đến 1946, ông trải qua 40 năm làm công chức, giữ các chức vụ từ Dinh Hiệp Lý, văn phòng Thống đốc Nam Kỳ, Tri huyện, Quận trưởng các quận Càng Long, Ô Môn, Phụng Hiệp đến chức Đốc Phủ Sứ (1936), trước khi chính thức từ quan năm 1946 để cống hiến trọn vẹn cho văn chương. Quá trình làm việc ở khắp các tỉnh miền Tây Nam Kỳ giúp ông tích lũy vốn sống thực tế phong phú về đời sống của các tầng lớp xã hội.
  • Đóng góp cho tiểu thuyết Nam Bộ: Hồ Biểu Chánh là người đặt nền móng vững chắc đưa tiểu thuyết Nam Bộ từ thời kỳ phôi thai tiến sang giai đoạn định hình và phát triển thịnh hành (giai đoạn 1913–1932). Ông phản ánh sinh động hiện thực xã hội nông thôn và thành thị Nam Bộ đầu thế kỷ XX; duy trì và truyền tải đạo lý truyền thống (nhân nghĩa, chung thủy) trước làn sóng du nhập của văn hóa phương Tây; đồng thời Việt hóa thành công các cốt truyện phương Tây khi phóng tác (Cay đắng mùi đời từ Không gia đình của Hector Malot; Ngọn cỏ gió đùa từ Những người khốn khổ của Victor Hugo; Chúa tàu Kim Quy từ Bá tước Monte-Cristo của Alexandre Dumas).
  • Hệ thống lý luận: Phân tích bản chất tiểu thuyết là bức tranh tái hiện hiện thực đời tư không thi vị hóa, khám phá con người trong quan hệ nhân quả và hoàn cảnh sống, sử dụng kết cấu linh hoạt và ngôn ngữ tạo hình giàu tính thẩm mỹ.

Chương 2: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Chương 2 phân tích chuyên sâu hai thành tố then chốt trong thi pháp tự sự của tác giả: nghệ thuật tổ chức cốt truyện và nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật.

  1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện: Khóa luận phân loại và phân tích 4 dạng cốt truyện tiêu biểu:
  • Cốt truyện đơn tuyến: Trục sự kiện tập trung vào một nhân vật trung tâm, diễn biến cô đọng, dễ nắm bắt tư tưởng chủ đề. Tiêu biểu: Cười gượng (cuộc đời cô Hảo vượt qua nghịch cảnh nuôi con và cứu giúp gia đình chồng cũ); Nhơn tình ấm lạnh (biến cố phá sản và sự trưởng thành của Phi Phụng); Khóc thầm (bi kịch hôn nhân của Thu Hà với Vĩnh Thái); Chút phận linh đinh (hành trình gian truân lưu lạc giữ trọn lòng chung thủy của Thu Vân qua 15 chương).
  • Cốt truyện đa tuyến: Dung nạp nhiều tuyến truyện, nhiều số phận nhân vật vận động song song và đan xen nhau. Tiêu biểu: Ai làm được (tuyến tình cảm Bạch Tuyết – Chí Đại song hành cùng tuyến Băng Tâm – Trường Khanh); Vì nghĩa vì tình (3 trục cốt truyện: mối tình ngang trái Trọng Quý – Tố Nga; quan hệ ân nghĩa éo le giữa cô Năm Đào và Chánh Tâm; hành trình lưu lạc 12 năm tìm lại cội nguồn của nhân vật Hồi).
  • Cốt truyện biên niên: Sự kiện diễn tiến theo dòng thời gian tuyến tính liên tục từ hiện tại đến tương lai. Tiêu biểu: Cha con nghĩa nặng (chuỗi biến cố Trần Văn Sửu ngộ sát vợ, trốn chạy và trở về sau hơn 11 năm); Nợ đời (cuộc đời cô Hai Phục từ lúc ngây thơ bị lừa gạt, trải qua 12 năm sống chung rồi chia tay để bảo vệ tương lai của con); Vì nghĩa vì tình (quá trình 5-6 năm Chánh Tâm tìm lại đứa con thất lạc).
  • Cốt truyện nhân – quả: Cấu trúc sự kiện theo logic nhân quả của đạo lý luân hồi (làm việc thiện gặt quả ngọt, làm việc ác chịu báo ứng). Tiêu biểu: Khóc thầm (Vĩnh Thái tàn ác phải nhận cái chết thảm khốc); Cay đắng mùi đời (những đứa trẻ lang thang nghèo khó như Được, Bỉ, Liên cuối cùng tìm được mái ấm và cha mẹ ruột); Ai làm được (bà Phủ Hai tham lam độc ác phải chịu án 8 năm tù cấm cố); Cha con nghĩa nặng (Thị Lựu ngoại tình, bất nghĩa phải chịu cái chết do tai nạn); Chút phận linh đinh (Thu Vân kiên trinh được gia đình chồng đón nhận).
  • Cốt truyện đảo ngược, hồi cố: Phá vỡ trật tự thời gian tự nhiên, tạo cấu trúc trần thuật hiện đại. Tiêu biểu: Chút phận linh đinh (mở đầu tại bến tàu hiện tại khi tiễn chồng đi Pháp, đảo ngược về quá khứ hẹn ước và thử thách tình duyên, rồi tiếp tục trôi về tương lai); Thầy thông ngôn (thời gian hồi cố diễn tả sự sám hối, dằn vặt của thầy Phong khi nhớ lại quá khứ tội lỗi và nuối tiếc mối duyên với cô Hai Liền).
Dạng cốt truyện Tác phẩm tiêu biểu Cơ chế vận động nghệ thuật
Đơn tuyến Cười gượng, Nhơn tình ấm lạnh, Khóc thầm, Chút phận linh đinh Tập trung vào một nhân vật chính, biến cố xung quanh làm nổi bật số phận trung tâm.
Đa tuyến Ai làm được, Vì nghĩa vì tình Phối hợp từ 2 đến 3 tuyến nhân vật song hành, liên kết hữu cơ tại các biến cố chung.
Biên niên Cha con nghĩa nặng, Nợ đời, Vì nghĩa vì tình Sự kiện trôi theo trục thời gian tuyến tính từ hiện tại đến tương lai kéo dài nhiều năm (11-12 năm).
Nhân - quả Khóc thầm, Cay đắng mùi đời, Ai làm được, Cha con nghĩa nặng Hành động thiện/ác là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới kết cục hạnh phúc hoặc trừng phạt.
Đảo ngược, hồi cố Chút phận linh đinh, Thầy thông ngôn Đảo lộn trật tự thời gian hiện tại - quá khứ - tương lai; khai thác tâm lý ăn năn, nhớ tiếc.
  1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khóa luận khảo sát 3 phương thức miêu tả:
  • Khắc họa qua tên gọi: Tên gọi gợi báo trước số phận (Thu Vân trôi nổi bấp bênh như mây trời; Hiển Vinh mang ước vọng làm rạng rỡ tông môn; Được là đứa trẻ nhặt được; Bỉ mang ý nghĩa bỉ cực thới lai; Hồi mang ý nghĩa quay trở về đoàn tụ; Hội đồng Đạt biểu thị sự phát đạt, toại nguyện); tên gọi gắn liền với đức hạnh, phẩm chất tốt đẹp (Chí Đại mang chí lớn quân tử; Hảo hiền thục mang lại điều tốt lành; Bạch Tuyết trong trắng như tuyết; Như Thạch có ý chí kiên định như đá; Hương sư Thiện giàu lòng nhân từ; Chánh Tâm cương trực, chuộng nghĩa); tên gọi tương phản hoàn toàn với nhân cách (cô Phụng trong Tại tôi mang tên loài chim quý nhưng tâm địa nhỏ nhen, tham lam).
  • Khắc họa qua ngoại hình: Diện mạo, trang phục, dáng vẻ thể hiện tính cách và nguồn gốc giai cấp. Tác giả phác họa vẻ đẹp trang nghiêm, có hoài bão của Chí Đại (Ai làm được); nét thanh nhã, nề nếp của cô Nhung (Tại tôi); vẻ mộc mạc, đoan trang của cô Hảo (Cười gượng); nét đài các, thánh thiện của Thu Hà (Khóc thầm); nét chân lấm tay bùn của người nông dân nghèo như Trần Văn Sửu (áo đen nhùn nhục, quần rách, trùm khăn rằn, ngậm búng trầu trong Cha con nghĩa nặng); nét lam lũ của Ba Thời (áo xắn ngang, quần vo tới đầu gối, dắt nọc cấy trong Cay đắng mùi đời). Ngược lại, ngoại hình các nhân vật phản diện bộc lộ sự trắc nết, dối trá (Thị Lựu răng đánh trắng nõn, diện quần lãnh đen; Như Hoa mắt lươn, môi mỏng, trán thấp trong Thầy thông ngôn; bà Phủ Tăng dồi phấn trắng toát trong Nợ đời; bà Phủ Hai ăn nói dịu ngọt giả dối trong Ai làm được).
  • Khắc họa qua hành động: Tính cách được bộc lộ trực tiếp qua việc làm cụ thể trong xung đột ứng xử (Như Thạch dắt vợ về lạy xin mẹ tha thứ thể hiện tính thẳng thắn, dám làm dám chịu; Trần Văn Sửu ngộ sát vợ do uất ức tột cùng trước sự phản bội; Hương hào Điều vung gậy trừng trị kẻ ngoại tình; Ba Thời không do dự bồng đứa trẻ bị bỏ rơi về nuôi thể hiện thiên tính mẫu tử; Bạch Tuyết trốn nhà ban đêm để giữ gìn phẩm giá).

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Chương 3 tập trung phân tích nét đặc sắc về phong cách ngôn ngữ và hệ thống giọng điệu trần thuật:

  • Ngôn ngữ bình dân Nam Bộ: Tác giả vận dụng triệt để lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân lục tỉnh vào cả lời thoại nhân vật lẫn lời kể chuyện, tạo nên lối hành văn "nghĩ sao viết vậy, viết như nói". Các lớp khẩu ngữ xuất hiện dày đặc: nín khe, không thèm léo vô bếp, lơn tơn trở về, áo đen nhùn nhục, cười ngỏn ngoẻn, mặt mày tèm lem, lăng căng chạy vô nhà, xẩn bẩn một bên, dữ hôn, hổng dắt đi, nhai nhóc nhách, buồn hiu, hát rấm ra rấm rít, đi riết, đứng xớ rớ, làm lung lắm, buồn nghiến, la tiếng bài hãi, nó trộng rồi, bươn bả đi tuốt, sướng giống gì... (Cha con nghĩa nặng).
  • Hệ thống định danh địa phương: Sử dụng các động từ chỉ hành vi quan sát đặc trưng Nam Bộ như dòm, ngó, coi, liếc thay cho "xem, nhìn"; dùng rù quến thay cho "dụ dỗ"; dùng từ chỉ sự quan sát lạ lẫm như ngó dáo dác.
  • Từ ngữ kết hợp sắc thái địa phương miêu tả mức độ: Các tổ hợp từ láy và tính từ nhấn mạnh tính trực quan: tròn trịa, cũ mèm, trắng nõn, vàng khè, xanh lét, sáng bét, đỏ lòm...
  • Tên gọi sự vật và đời sống sông nước đặc thù: Miêu tả phương tiện di chuyển và sản vật Nam Bộ: ghe, xuồng, đò, khăn rằn, các loại cây kiểng như bùm sụm, kim quýt, sơn tùng, cần lăng.
  • Khẩu ngữ chỉ hành động, trạng thái và cảm thán: Dông mịt (chạy trốn thật nhanh), nước rúng ròng (nước sông chuẩn bị vơi, cạn), no nốc (no căng bụng); các thán từ và từ tình thái biểu cảm: cha chả, thiệt hôn, dữ hôn; hệ thống đại từ nhân xưng địa phương: ổng, bả, chỉ, ảnh, cẩu, về bển, ngoải, ở trển.
  • Giọng điệu trần thuật: Tồn tại song song hai sắc thái giọng điệu chính: giọng mỉa mai, giễu cợt trước thói đạo đức giả, tham lam, bất nghĩa của tầng lớp quan lại, cường hào; và giọng điệu xót xa, thương cảm sâu sắc đối với số phận nghèo khổ, trôi nổi của người lao động bình dân.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính của khóa luận:

  • Hệ thống hóa toàn diện các phương thức tự sự của Hồ Biểu Chánh, xác lập 5 mô hình cốt truyện (đơn tuyến, đa tuyến, biên niên, nhân - quả, đảo ngược/hồi cố) và làm rõ 3 thủ pháp xây dựng nhân vật (qua tên gọi mang tính biểu trưng/dự báo, qua miêu tả chi tiết ngoại hình tả thực, qua hành động ứng xử kịch tính).
  • Phân tích và minh chứng chi tiết tính chất "văn dĩ tải đạo" nhưng đậm chất hiện thực trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh: các xung đột xã hội Nam Bộ được giải quyết trên nền tảng luân lý truyền thống Á Đông kết hợp với kỹ thuật kết cấu tiểu thuyết phương Tây.
  • Thống kê và chứng minh Hồ Biểu Chánh là tác gia có vốn từ vựng phong phương ngữ Nam Bộ phong phú bậc nhất đầu thế kỷ XX, đưa khẩu ngữ đời thường vào trần thuật văn học một cách tự nhiên.

Đóng góp của tác giả khóa luận:

  • Góp phần bổ sung luận cứ khoa học vào mảng nghiên cứu thi pháp học đối với tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn giao thời 1913–1932.
  • Làm rõ nghệ thuật tiếp thu và "Việt hóa" các kiệt tác văn học phương Tây của Hồ Biểu Chánh thông qua các tiểu thuyết phóng tác tiêu biểu (Cay đắng mùi đời, Ngọn cỏ gió đùa, Chúa tàu Kim Quy).

Kiến nghị của tác giả:

  • Cần có cái nhìn khách quan, khoa học để đánh giá đúng mức vị trí tiên phong của Hồ Biểu Chánh trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
  • Đề xuất tiếp tục kế thừa, giữ gìn và phát huy những giá trị thẩm mỹ, đạo đức và ngôn ngữ dân tộc mà nhà văn đã để lại cho các thế hệ sau.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận:

  • Do dung lượng của một khóa luận tốt nghiệp bậc đại học và số lượng trước tác của Hồ Biểu Chánh quá lớn (64 tiểu thuyết cùng hàng chục tập khảo cứu, kịch bản), khóa luận chỉ khảo sát tập trung trên một số tác phẩm tiêu biểu mà chưa thể bao quát toàn bộ 64 tiểu thuyết của tác giả.
  • Việc so sánh đối chiếu giữa các tiểu thuyết phóng tác (Cay đắng mùi đời, Ngọn cỏ gió đùa, Chúa tàu Kim Quy) với nguyên tác tiểu thuyết Pháp của Victor Hugo, Hector Malot, Alexandre Dumas mới dừng ở mức nhận định khái quát, chưa đi sâu vào so sánh văn bản học chi tiết.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang toàn bộ 64 tiểu thuyết và các thể loại khác của Hồ Biểu Chánh như truyện ngắn, tuồng hát bội, cải lương, biên khảo lịch sử để có cái nhìn toàn diện hơn về phong cách nghệ thuật của ông.
  • Đi sâu nghiên cứu thi pháp so sánh liên văn bản giữa tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết hiện thực Pháp thế kỷ XIX, hoặc nghiên cứu sự chuyển dịch ngôn ngữ từ văn bản tiểu thuyết sang kịch bản phim truyền hình Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Văn học, Sư phạm Ngữ văn, Văn hóa học tham khảo khi học tập, nghiên cứu về văn học Nam Bộ, tiến trình tiểu thuyết hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX và thi pháp học tự sự.
  • Các nhà nghiên cứu và người thực hiện đề tài về phong cách nghệ thuật tác gia Hồ Biểu Chánh: phần phân loại các dạng cốt truyện (Chương 2) và hệ thống phân tích lớp từ ngữ địa phương Nam Bộ (Chương 3) là những nội dung có giá trị trích dẫn học thuật cao.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hồ Biểu Chánh đã phóng tác những tác phẩm văn học phương Tây nào và cách xử lý của ông có đặc điểm gì?
    Trong văn bản khóa luận, tác giả chỉ ra Hồ Biểu Chánh đã phóng tác 3 tiểu thuyết nổi tiếng của Pháp: Cay đắng mùi đời phóng tác từ Không gia đình của Hector Malot; Ngọn cỏ gió đùa phóng tác từ Những người khốn khổ của Victor Hugo; và Chúa tàu Kim Quy phỏng theo Bá tước Monte-Cristo của Alexandre Dumas. Điểm đặc sắc là nhà văn đã thổi hồn cốt Việt, cảnh sắc và đạo lý Nam Bộ vào hệ thống nhân vật, biến các cốt truyện ngoại quốc thành tác phẩm mang đậm tâm hồn và cốt cách dân tộc.

  2. Khóa luận phân chia cốt truyện tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thành những dạng nào?
    Khóa luận làm rõ 4 nhóm dạng cốt truyện chính (gồm 5 biểu hiện cụ thể): (1) Cốt truyện đơn tuyến (Cười gượng, Nhơn tình ấm lạnh, Khóc thầm, Chút phận linh đinh); (2) Cốt truyện đa tuyến (Ai làm được, Vì nghĩa vì tình); (3) Cốt truyện biên niên theo thời gian tuyến tính (Cha con nghĩa nặng, Nợ đời, Vì nghĩa vì tình); (4) Cốt truyện nhân - quả gắn với đạo lý ở hiền gặp lành (Khóc thầm, Cay đắng mùi đời, Ai làm được, Cha con nghĩa nặng); và dạng cốt truyện hiện đại mở rộng là (5) Cốt truyện đảo ngược, hồi cố (Chút phận linh đinh, Thầy thông ngôn).

  3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua tên gọi trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh được thể hiện ra sao?
    Tác giả khóa luận chỉ ra 3 nhóm dụng ý đặt tên: (1) Tên gợi dự báo số phận trôi nổi hoặc may mắn (Thu Vân bồng bềnh như mây, Được là đứa trẻ nhặt được, Bỉ là bỉ cực thới lai, Hồi là quay trở về, Hội đồng Đạt là phát đạt toại nguyện); (2) Tên gắn liền phẩm chất cao đẹp (Chí Đại có chí lớn, Hảo là tốt đẹp, Bạch Tuyết trong trắng, Như Thạch kiên định, Hương sư Thiện giàu lòng từ bi, Chánh Tâm chuộng nghĩa); (3) Tên gọi tương phản với bản chất xấu xa bên trong (nhân vật cô Phụng trong Tại tôi mang tên loài chim quý nhưng tính tình nhỏ nhen, tham lam).

  4. Đặc trưng ngôn ngữ nổi bật nhất trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh được chỉ ra trong khóa luận là gì?
    Đó là việc sử dụng triệt để ngôn ngữ quần chúng bình dân Nam Bộ theo phong cách "nghĩ sao viết vậy, viết như nói". Nhà văn đưa cả lớp khẩu ngữ, đại từ nhân xưng địa phương (ổng, bả, chỉ, ảnh), hệ thống định danh địa phương (dòm, ngó, rù quến), từ chỉ mức độ (đỏ lòm, trắng nõn, cũ mèm), và tên gọi vật dụng/sản vật sông nước (ghe, xuồng, khăn rằn, cây bùm sụm) vào cả lời thoại nhân vật lẫn lời trần thuật của tác giả.

  5. Khóa luận sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể nào?
    Văn bản nêu rõ việc phối hợp 3 phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp hệ thống, và phương pháp khái quát hóa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp Nghệ thuật sáng tác trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng đã khảo sát và hệ thống hóa toàn diện các bình diện thi pháp cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh. Công trình khẳng định vai trò tiên phong của nhà văn trong việc định hình thể loại tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn 1913–1932 thông qua sự kết hợp giữa kỹ thuật tự sự phương Tây và luân lý, ngôn ngữ bình dân Nam Bộ. Đây là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống dữ liệu dẫn chứng rõ ràng, phục vụ hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX.