mở đầu, kết thúc). Oreechioni: “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện can và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đôi nhưng không đứt quãng trong. một khung thời gian - không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề thay đôi nhưng không đứt quãng” [Dẫn theo 2, tr. Tuy vậy, Đỗ Hữu Châu nhận định: “Nói chung cho đến nay việc xác định ranh giới cuộc thoại chưa có gi thực đứt khoát với những tiêu chí đủ tin cây” [2, tr313].
b, Đoạn thoại “Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng. Về ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề: một chủ đề duy nhất và về ngữ dụng học đó là tính duy nhất về đích” [2. Song cũng như cuộc thoại, sự phân định đoạn thoại cũng không. rành mạch nhiều khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán.
Cặp thoại “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu, cũng tức là cặp kế cận, gồm. hành vi dẫn nhập và hành vi hồi đáp” [30, tr 231]. Mỗi lượt lời được xây dựng trên cơ sở những lượt lời trước đó. Như vậy, là có sự luân phiên lượt lời, luân phiên nói năng trong hội thoại.
Đó là một nguyên lý hội thoại. Phát ngôn Phát ngôn là đơn vị của lời nói, nó được tách ra từ trong chuỗi lời nói dùng để giao tiếp hàng ngày hoặc tách ra từ dạng văn bản dùng để chỉ lời nói trực tiếp của các nhân vật hội thoại. Khái niệm phát ngôn được chúng tôi sử dụng tương đương với khái niệm câu trong ngôn ngữ học truyền thống. 19 Trong một lượt lời có thể có một hoặc nhiều phát ngôn, các phát ngôn eó mục đích và chức năng khác nhau.
Những phát ngôn trong một lượt lời là những hành vĩ hội thoại 1. Lý thuyết hành động ngôn ngữ Hành động là khái niệm được dùng để chỉ các hoạt đông của con người nói chung. Con người lại dùng ngôn ngữ để nói với nhau, thông tin cho nhau. về các nội dung khác nhau, làm cho nhau củng biến đổi, ta gọi là hành động.
Ngôn ngữ luôn vận động và phát triển theo thời gian cùng với sự phát triển của xã hội loài người. “Khi ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp thì ta nói ngôn ngữ đang hành chức bay ngôn ngữ hành chức khi con người nói năng bằng một ngôn ngữ nhất định. Vậy, nói năng là một dạng hành động đặc. biệt của con người - hành động bằng ngôn ngữ” [30, tr.
Phân loại hành động ngôn ngữ Khi chúng ta nói năng là chúng ta đang hành động, chúng ta đang thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ.L Austin, có ba loại hành động ngôn ngữ: hành động tạo lời, hành động mượn lời, hành động ở lời 1. Hành động tạo lời “Hanh động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như. ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình. thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiể được” [30, tr.
(8) - Cậu ăn cơm rồi chưa? Phát ngôn trên do các từ: Cậu/ ăn/ cơm/ rồi /chưa tạo nên => phát ngôn. ~ Chị đề đó mặc tôi liệu. => Phát ngôn cầu khiến. Hành động mượn lời “Hanh động mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, hay.
nói một cách khác là mượn các phát ngôn để gây ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe. Hiệu quả này không đồng nhất ở những. người nghe khác nhau” [30, tr. (9) “Đỗ Cẩm xòe ngửa bàn tay trái ra, chỉ từ lòng bàn tay mà đếm lầm thằm réi nói rằng: ~ Chết hôm ngày mùng sáu, đến bữa nay là mười ngày rồi.
“Ảnh Nguyệt lắc đầu, thở dài buằn thảm quả không nói chỉ được hết. Cẩm ngó nàng và nói tiếp rằng: ~ Ông già em báo hại quá! Vợ chẳng qua có vỗi ống chút đỉnh bị ông làm tiêu hắt. 'Như vậy, cùng một thông tin, mét sự việc nhưng hiệu quả đến tai người nghe là hoàn toàn khác nhau. Hành động ở lời “Hành động ở lời là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiệu quả của chúng gây những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe" [30, tr. Đặc trưng của hành động tại lời là vừa thể hiện ý định của người nói vừa có tính quy ước. Nghĩa là người nghe khi nhận được phát ngôn ở lời, dù thực hiện hay không thực hiện, người đó cũng không còn vô can như trước khi chưa nghe câu nói đó. (10) - Để tôi trả tiền cho chú.
=>là hành động ở lời ~ Thưa không. Tôi kiến cậu chớ bán chác gì mà trả tiễn. 169] Hiệu quả của hành động ở lời được thể hiện qua edu: Tha khdng. Toi in cậu chớ bản chắc gì mà trả tiên ~ người trả lời phát ngôn.
Phân loại hành động ở lời Có nhiều cách phân loại hành động ngôn ngữ khác nhau nhưng việc phân loại hành động ngôn ngữ căn cứ vào phản ứng qua lại ảnh hưởng giữa những người tham gia giao tiếp. Vì vậy, ở đây, chúng tôi chỉ chọn hai tiêu chí phân loại của J. Phân loại của J1. Austin chia các loại hành động ngôn ngữ thành 5 phạm trù sau: (1) Phán xử (verdidik): đây là những hành vi đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cứ hiển nhiên hoặc dựa.
vào lí lẽ vững chắc như: xử trắng án, xem là, tính toán, miêu tả, phân tích, đánh giá, phân loại. (2) Hành xử (exercitifs): là những hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, bỗ nhiệm, đặt tên, khai mạc, bế mạc, chỉ huy, khẩn cầu. (3) Cam kết (commissifs): những hành vi mang tính chất rằng buộc. người nói vào một chuỗi những hành động nhất định như: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, giao ước, bảo đảm, thể nguyễn,.
(4) Trình bày (expositifs): hành vỉ này dùng để trình bày những quan niệm, dẫn dắt, lập luận như: khẳng định, phủ định, phản bác, nhượng bộ, dẫn thí dụ, báo cáo ý kí (5) Ung xir (behabitives): là hành vi phản ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, thể hiện thái độ, tình cảm một cách trực. tiếp như: xin lỗi, cảm ơn, phê phán, chia buồn, ban phước, nguyễn rủa. Phân loại củaJ. Searle đưa ra 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn ngữ, trong số đó có 4 tiêu chí cơ bản nhất (Tiêu chí đích ở lời iêu chí hướng khớp ghép, 2 tiêu chí trạng thái tâm lý và tiêu chí nội dung mệnh đề) để phân loại 5 phạm trù hành động ở lời, đó là: (1) Tái hiện (representatives): miêu tả lại một sự tỉnh đang được nói đến như: khẳng định, tường thuật, miêu tả, thông tỉn, giải thích.
(2) Điều khiển (directives): là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai: ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép, đặn dỏ, mời mọc. (3) Cam két (commissives): là trách nhiệm phải thực hiện hành động. tương lai mà Spl bị rằng bu cam đoan, hứa hẹn, biểu, thoả thuận, thể. (4) Biểu cảm (expressives): là bày tỏ trạng thái tâm lí phù hợi với hành vi ở lời: Vui thích, khó chịu, mong muốn, cảm ơn, xin lỗi, khen.
(5) Tuyên bố (declaratifs): là nhằm làm cho có tác dụng nội dung của. hành vị: tuyên bố, buộc tội, bác bỏ, từ chối. [Dẫn theo 2, tr. Điều kiện sử dụng hành động ở lời Theo Đỗ Hữu Châu: Điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vỉ ở lời phải đáp ứng dé nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ.
cảnh của sự phát ngôn ra nó” [2, tr. Còn tác giả Đỗ Thị Kim Liên thì cho rằng: “Điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những nhân tố cần thiết cho. phép thực hiện hành động ở lời nhất định trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thé” [30, tr. Searle thì đưa ra 4 điều kiện cho một hành động ngôn ngữ: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản.
Các nội dung cụ thể: .a) Điều kiện nội dung mệnh đẻ: chỉ ra bản chất nội dung của hành động. b) Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn. về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói với người nghe. 2 ©) Điều kiện chân thành: chỉ ra các trang thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói với người nghe như xác tín đòi hỏi niềm tin vào đi mình xác tín, mệnh lệnh đồi hỏi mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói.
d) Điều kiện căn là điều kiện đưa ra trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị rằng buộc khi hành động ở lời đó được phát ra [Din theo 2, tr. Hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp Giao tiếp là hoạt động vô cùng quan trọng của loài người. giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động quan trọng vào bậc nhất trong các hoạt động giao tiếp vì nó đem lại hiệu quả giao tiếp tốt nhất. Trong giao tiếp, không phải lúc nào con người cũng có thể nói ra một cách trực tiếp những suy nghĩ, những yêu cầu.
Vì vậy, trong quá trình giao tiếp, tùy vào ngữ cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp mà con người đưa ra những hành động giao tiếp cụ thể. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu đã chia hành động ngôn ngữ thành hai loại: hành động trực tiếp và hành động gián tiếp. Hành động ở lời trực tiếp: Theo tac giả Đỗ Thị Kim Liên, hành động ở lời trực tiếp là “hành động. có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên” [30, tr.
Nghĩa là trong cấu trúc phát ngôn đã trực tiếp chứa các từ ngữ tạo nên hiệu lực, tác động trực tiếp đến người nghe. Vi dụ: (11) Thị Tổ ở nhà sau bước lên thấy vậy bèn hỏi rằng: - Đẻ còn non ngày, đừng có khóc. Tại mây khóc nên mới sưng mặt đó đa. Con Lựu lấy khăn lau nước mắt mà nói rằng: 24 ~ Không biết tai sao hễ em ngó tới thằng nhỏ thì bắt chảy nước mắt.
33] Đây là hành động khuyên bảo của người chị dâu với cô em chồng không may mắn bị người ta hãm hiếp đến có con Oi bỏ.