Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái: Luận văn nghiên cứu

Chuyên khảo phân tích Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết hồ anh thái, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

Lí do chọn đề tài

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1. Về cảm quan nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

1.2. Về các thủ pháp nghệ thuật làm nên chất nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Mục đích nghiên cứu

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Đối tƣợng nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

Phƣơng pháp nghiên cứu

1.5. Phƣơng pháp hệ thống – cấu trúc

1.6. Phƣơng pháp liên ngành

1.7. Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp

1.8. Phƣơng pháp so sánh - đối chiếu

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Bố cục của luận văn

1. CHƢƠNG 1: CẢM QUAN NGHỊCH DỊ VÀ TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI

1.1. Nghịch dị và nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết

1.1.1. Về khái niệm nghịch dị

1.1.2. Nghịch dị - một phƣơng thức nghệ thuật quan trọng trong tiểu thuyết

1.2. Sự hồi sinh của nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986

1.3. Hồ Anh Thái và hành trình sáng tạo nghệ thuật

1.3.1. Hồ Anh Thái - “Nhà văn luôn luôn đi và bao giờ cũng đang viết”

1.3.2. Tiểu thuyết nghịch dị của Hồ Anh Thái - sự kiếm tìm sáng tạo

1.4. Quan niệm nghệ thuật của Hồ Anh Thái

1.4.1. Nhà văn “phải là ngƣời tử tế”

1.4.2. Văn chƣơng phải luôn “chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội”

1.4.3. “Tiểu thuyết là một giấc mơ dài”

2. CHƢƠNG 2: CẢM QUAN CARNAVAL VÀ HÌNH TƢỢNG NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI

2.1. Cảm quan Carnaval trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

2.1.1. Cƣờng điệu hóa những mâu thuẫn trong cuộc sống

2.1.2. Sáng tạo những tƣơng phản kỳ quặc

2.1.3. Cái nhìn trào lộng về cuộc sống, con ngƣời

2.1.4. Kế thừa tƣ duy văn hóa, văn học dân gian

2.2. Hình tƣợng nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

2.2.1. Con ngƣời - Nhân vật mặt nạ diễn trò

2.2.2. Không - thời gian trò diễn

3. CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI QUA CÁC THỦ PHÁP BIỂU HIỆN

3.1. Carnaval hóa thế giới nghệ thuật

3.2. Xây dựng tình huống nghịch lý

3.3. Lạ hóa biểu tƣợng nghệ thuật

3.4. “Hoàn cảnh hóa” ngôn ngữ nghệ thuật

3.5. Sử dụng các biệt ngữ xã hội và lớp “thuật ngữ thời đại”

3.6. “Thông tục, suồng sã hóa” ngôn ngữ

3.7. Linh hoạt trong giọng điệu nghệ thuật

3.7.1. Tối đa hóa giọng giễu nhại

3.7.2. Kết hợp giọng trào phúng dân gian với triết lý hiện đại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá Nghệ thuật nghịch dị trong Tiểu thuyết 55 Ký tự

Nghệ thuật nghịch dị là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, tổ chức hình tượng dựa trên huyễn tưởng, trào phúng, và sự kết hợp kỳ quặc giữa cái thực và cái ảo, cái đẹp và cái xấu. Từ điển văn học định nghĩa nghịch dị là sự kết hợp và tương phản một cách kỳ quặc cái huyễn hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cái bi và cái hài, cái giống thật và cái biếm họa [30,1053]. Trong khi đó, Từ điển thuật ngữ văn học mở rộng định nghĩa, nhấn mạnh vai trò của tiếng cười, sự phóng đại, và lối kết hợp tương phản kỳ quặc. Nghịch dị, do đó, khác với kỳ ảochâm biếm, dù có sự gần gũi. Nguồn gốc của nghịch dị có thể tìm thấy trong thần thoại và nghệ thuật cổ sơ của mọi dân tộc, nhưng chỉ đến thời Phục Hưng ở châu Âu, nó mới trở thành một thủ pháp văn học thực thụ. Trong thế kỷ XX, nghịch dị trở thành một hình thức tiêu biểu của nghệ thuật, đặc biệt là trong các khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa như chủ nghĩa biểu hiệnchủ nghĩa siêu thực. Nghịch dị là một phương thức nghệ thuật quan trọng trong tiểu thuyết. Nó đã có nhiều biến đổi, bổ sung, mỗi thời kì có một màu sắc riêng. Ở Việt Nam, thời trung đại, nghịch dị thể hiện ở việc hướng đến việc trình bày những cái đời thường, những hình tượng mà trong văn chương chính thống nhà Nho vốn không đề cập đến vì họ sợ vi phạm vào những chuẩn mực đạo đức và văn phong đã trở thành các quy phạm cổ điển. Từ đó hướng đến một quan niệm khác, một cái nhìn khác về thế giới, rằng cái mà từ trước tới nay vốn được cho là không trang nghiêm, không chính thống vẫn tồn tại, vẫn luôn khiêu khích và có những lí lẽ tồn tại của riêng nó. Nghịch dị trong thời đại này vì thế mà đối thoại với truyền thống trang nghiêm. Trong văn học hiện đại giai đoạn 1930 – 1945, tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng có thể được coi là những tác phẩm thấm đẫm chất nghịch dị. Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng mang đến những tiếng cười mỉa mai về tình trạng đạo đức giả tạo tồn tại nghiễm nhiên trong những hình thức trang nghiêm. Ông hướng đến các tầng lớp tinh hoa trong địa vị xã hội nhưng lại rất “rởm đời”. Họ là những người đội mặt nạ, là những biểu hiện lệch lạc và không tương xứng giữa phẩm chất và những chuẩn mực hành vi của con người. Trong văn học Việt Nam đương đại, nhiều nhà văn hướng đến miêu tả thế giới thông qua các hình thức giễu nhại, cười cợt, suồng sã, giáng cấp, vật hóa, sử dụng ngôn ngữ chợ búa, chửi rủa, v. Những yếu tố này có thể tìm thấy trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương (Những đứa trẻ chết già), Tạ Duy Anh (Thiên thần sám hối), Đặng Thân (Những mảnh hồn trần) v. Nó hướng đến một quan niệm nghệ thuật về bản chất của con người, quan hệ giữa chúng với nhau và với thế giới. Đồng thời hướng đến việc cấp một cái nhìn khác về hiện thực vốn trang nghiêm và đặt nặng các quy chuẩn. Cũng vì thế trong tương quan với những biểu hiện đa dạng của cuộc sống. Nghịch dị hướng đến việc cho con người thấy bản thân mình một cách tự nhiên ở khía cạnh cảm tính sống động. Nó vừa khai tử một thế giới nào đó, vừa tái sinh và hướng đến đổi mới.

1.1. Nguồn gốc và định nghĩa Nghệ thuật nghịch dị 45 ký tự

Nghịch dị có nguồn gốc từ văn hóa dân gian, thần thoại và nghệ thuật cổ sơ. Nó được sử dụng để phê phán xã hội, khám phá bản chất con người, và tạo ra một thế giới nghệ thuật độc đáo. Trong văn học hiện đại, nghịch dị thường được kết hợp với các yếu tố phi lý, kinh dị, và trào phúng, tạo nên một phong cách độc đáo và gây ấn tượng. Nghịch dị là một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, là sự hòa trộn của cái hài với cái kinh dị, cái giống như thực với cái biếm họa, bình thường và bất thường, lạ lùng, kì quặc.

1.2. Nghịch dị trong Văn học Việt Nam Lịch sử phát triển 50 ký tự

Ở Việt Nam, nghịch dị xuất hiện từ văn học dân gian, qua các tác phẩm của Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Vũ Trọng Phụng, và tiếp tục phát triển trong văn học đương đại. Các nhà văn Việt Nam hiện đại sử dụng nghệ thuật nghịch dị để thể hiện cái nhìn mới về xã hội, con người, và các vấn đề thời sự. Trong văn học Việt Nam đương đại, nhiều nhà văn hướng đến miêu tả thế giới thông qua các hình thức giễu nhại, cười cợt, suồng sã, giáng cấp, vật hóa, sử dụng ngôn ngữ chợ búa, chửi rủa, v. Những yếu tố này có thể tìm thấy trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương (Những đứa trẻ chết già), Tạ Duy Anh (Thiên thần sám hối), Đặng Thân (Những mảnh hồn trần) v. Nó hướng đến một quan niệm nghệ thuật về bản chất của con người, quan hệ giữa chúng với nhau và với thế giới. Đồng thời hướng đến việc cấp một cái nhìn khác về hiện thực vốn trang nghiêm và đặt nặng các quy chuẩn.

II. Vấn đề Thách thức khi khai thác Nghệ thuật Nghịch Dị 58 Ký tự

Khai thác nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết không phải lúc nào cũng dễ dàng. Một trong những thách thức lớn nhất là làm sao để sử dụng nó một cách hiệu quả, không sa vào lố bịch hoặc khiên cưỡng. Nghịch dị phải được tích hợp một cách tự nhiên vào câu chuyện, phản ánh chân thực những mâu thuẫn và bất cập của xã hội, đồng thời vẫn giữ được tính thẩm mỹ và nghệ thuật. Bên cạnh đó, việc giải mã ý nghĩa của những hình ảnh và biểu tượng nghịch dị cũng đòi hỏi người đọc phải có kiến thức và sự nhạy bén nhất định. Một số người có thể cảm thấy khó hiểu hoặc thậm chí là khó chịu trước những hình ảnh kỳ quái và ghê rợn. Tuy nhiên, nếu được khai thác đúng cách, nghệ thuật nghịch dị có thể mang lại những trải nghiệm độc đáo và sâu sắc cho độc giả. Trong quá trình nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Anh Thái, chúng tôi mong muốn chỉ ra những đặc điểm nổi bật của nghệ thuật nghịch dị mà Hồ Anh Thái đã sử dụng trong tiểu thuyết của ông, phân tích, đánh giá giá trị của chúng trong việc tạo ra những đặc sắc cho tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đồng thời khẳng định tài năng, sự sáng tạo và những đóng góp của nhà văn đối với văn học Việt Nam hiện đại. Lịch sử vấn đề nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập riêng về một số khía cạnh nghệ thuật như nhân vật nghịch dị, ngôn ngữ nghịch dị, giọng điệu nghịch dị… mà chưa xem xét chúng như một chỉnh thể tạo nên nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Vì vậy, việc xem xét, đánh giá Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học.

2.1. Nguy cơ và hạn chế khi sử dụng yếu tố nghịch dị 53 ký tự

Một trong những nguy cơ lớn nhất khi sử dụng yếu tố nghịch dị là sự lạm dụng, dẫn đến việc tác phẩm trở nên khiên cưỡng và mất đi tính thẩm mỹ. Nghịch dị phải được sử dụng một cách có ý thức và có mục đích, không chỉ để gây sốc hoặc tạo sự chú ý nhất thời. Một tác phẩm lạm dụng yếu tố nghịch dị có thể trở nên khó hiểu, khó tiếp cận, và thậm chí là gây phản cảm cho người đọc.

2.2. Yêu cầu đối với người đọc để tiếp nhận nghịch dị 55 ký tự

Tiếp nhận và giải mã nghệ thuật nghịch dị đòi hỏi người đọc phải có kiến thức, sự nhạy bén, và khả năng tư duy phản biện. Người đọc cần phải hiểu được bối cảnh văn hóa, lịch sử, và xã hội của tác phẩm, cũng như những ý nghĩa ẩn sau những hình ảnh và biểu tượng kỳ quái. Sự kiên nhẫn và sẵn sàng khám phá những điều mới mẻ cũng là những yếu tố quan trọng để tiếp nhận nghệ thuật nghịch dị.

III. Cảm quan Carnaval Chìa khóa hiểu Nghịch dị trong tiểu thuyết 60 Ký tự

Cảm quan Carnaval, theo M. Bakhtin, là chìa khóa quan trọng để hiểu nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết. Carnaval là lễ hội dân gian, mang đến không khí vui vẻ, tự do, và sự đảo lộn trật tự xã hội. Cảm quan Carnaval trong tiểu thuyết thể hiện qua sự cường điệu hóa mâu thuẫn, sáng tạo những tương phản kỳ quặc, và cái nhìn trào lộng về cuộc sống và con người. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, những mâu thuẫn trong đời sống được tái hiện thường là các mâu thuẫn mang tính chất phi lý, phản quy luật thông thường. Sự xuất hiện phản logic của chúng thường tạo nên yếu tố bất ngờ, có khả năng gây cười và phản ánh chân thực một số tình huống phi lý trớ trêu, lật tẩy sự ăn may đầy chất nghịch dị. Và con người cũng phức tạp, đa dạng không kém gì cuộc sống. Các nhân vật trong trong tiểu thuyết của ông có thể là những con người quay cuồng trong vòng xoáy của danh lợi, bỏ qua mọi giá trị đạo đức để chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ và vô tình, tìm mọi cách thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà không cần quan tâm đến người khác nhưng họ cũng còn là những con người có ước mơ cao đẹp, dám sống hết mình với tuổi trẻ, với đam mê, khát vọng. Ở tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra, Hồ Anh Thái đã lột tả cả cái tốt, cả cái xấu của cuộc sống thời chiến. Trong Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã tái hiện lại một xã hội, một cuộc sống xấu xa tàn ác đến nghẹt thở. Cái ác không chỉ là sự bạo tàn của chiến tranh trong quá khứ mà nó còn ẩn hiện muôn hình vạn trạng qua cách mà người ta ứng xử với nhau trong đời sống hiện đại. Đó là cuộc đối đầu giữa cái thiện và cái ác, quá khứ và hiện tại, tình yêu và thù hận, những giá trị truyền thống và tư tưởng mới du nhập. những vấn đề mà xã hội, “cõi người” từng ngày phải đối diện. Nhân vật “tôi” dửng dưng, bàng quan, đồng hành và nhiều khi là đồng phạm với cái ác. Cho đến lúc nhận ra rằng “Phải chứng kiến tận mắt, phải ôm người chết trong tay, phải khâm liệm cho một tử thi. người đó mới xem như thực hiểu đời, hiểu người, hiểu sự sống. Khi đã hiểu cái chết, anh mới bình thản và tự tin để quan sát tất cả những người không hiểu cái chết. Khi ấy, anh thấy mình cần phải sống” [68,157]. Xã hội con người muôn đời đã như vậy.

3.1. Cường điệu hóa mâu thuẫn Phản ánh xã hội và con người 56 ký tự

Một trong những đặc điểm nổi bật của cảm quan Carnaval là sự cường điệu hóa những mâu thuẫn trong cuộc sống. Hồ Anh Thái thường sử dụng thủ pháp này để làm nổi bật những bất cập, những phi lý, và những thói hư tật xấu của xã hội và con người. Sự cường điệu hóa giúp tác phẩm trở nên sâu sắcgây ấn tượng hơn.

3.2. Tương phản kỳ quặc Tạo hiệu ứng bất ngờ hài hước 50 ký tự

Sáng tạo những tương phản kỳ quặc là một thủ pháp quan trọng khác của cảm quan Carnaval. Hồ Anh Thái thường kết hợp những yếu tố trái ngược, những hình ảnh vô lý, và những tình huống dở khóc dở cười để tạo hiệu ứng bất ngờ, hài hước, và đôi khi là ghê rợn. Sự tương phản kỳ quặc giúp tác phẩm trở nên độc đáogây ấn tượng mạnh.

3.3. Cái nhìn trào lộng Phê phán và thức tỉnh lương tri 50 ký tự

Cái nhìn trào lộng là một yếu tố không thể thiếu của cảm quan Carnaval. Hồ Anh Thái sử dụng cái nhìn trào lộng để phê phán những thói hư tật xấu, những hủ tục, và những giá trị đạo đức suy đồi của xã hội. Cái nhìn trào lộng không chỉ mang lại tiếng cười, mà còn giúp thức tỉnh lương trikhơi gợi suy ngẫm trong lòng người đọc.

IV. Xây dựng Nhân vật Nghịch dị Thủ pháp nổi bật trong tiểu thuyết 58 Ký tự

Nhân vật nghịch dị là một trong những thủ pháp nổi bật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Các nhân vật này thường có những đặc điểm kỳ quái, lệch lạc, và phi lý, không tuân theo những chuẩn mực thông thường của xã hội. Tuy nhiên, đằng sau vẻ ngoài kỳ dị đó, họ lại mang trong mình những nỗi đau, những khát vọng, và những giá trị nhân văn sâu sắc. Có thể thấy, thủ pháp nghệ thuật nghệ thuật đặc biệt này đã tạo nên thành công của các tác phẩm. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thuật ngữ nhân vật văn học “là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học” [24,235]. Khi xem xét nhân vật trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách của nhà văn, trường phái văn học, tác giả Lại Nguyên Ân, lại quan niệm: “Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách. Những nét chung về nhân vật văn học có thể cho phép nêu lên những hiện tượng văn học” [6,306]. Theo đó, nhân vật văn học là một trong những yếu tố tạo nên phong cách nhà văn và màu sắc riêng của một trường phái văn học. Còn nhân vật mặt nạ, theo Từ điển văn học, đó là kiểu nhân vật tiêu biểu cho tư duy nghệ thuật ở chủ nghĩa cổ điển, thuộc kiểu “nhân vật chức năng (nhân vật – mặt nạ)” [30,1255].

4.1. Đặc điểm của Nhân vật Nghịch dị Kỳ quái và lệch lạc 56 ký tự

Nhân vật nghịch dị thường có ngoại hình kỳ quái, tính cách lệch lạc, hoặc hành vi phi lý. Họ có thể là những người xấu xí, dị dạng, hoặc có những thói quen kỳ lạ. Tuy nhiên, chính những đặc điểm này lại giúp họ trở nên độc đáogây ấn tượng trong lòng người đọc.

4.2. Ý nghĩa của Nhân vật Nghịch dị Phản ánh xã hội và con người 55 ký tự

Nhân vật nghịch dị không chỉ là những hình tượng kỳ quái, mà còn là những biểu tượng phản ánh những mâu thuẫn, những bất cập, và những giá trị đạo đức suy đồi của xã hội. Họ cũng là những tấm gương phản chiếu những nỗi đau, những khát vọng, và những giá trị nhân văn sâu sắc của con người.

V. Thủ pháp Carnaval hóa và ảnh hưởng tới nghệ thuật nghịch dị 60 Ký tự

Hồ Anh Thái đã vận dụng thủ pháp Carnaval hóa để xây dựng các tình huống nghịch lý, lạ hóa biểu tượng nghệ thuật, và hoàn cảnh hóa ngôn ngữ nghệ thuật. Thủ pháp này giúp tác phẩm trở nên sinh động, hấp dẫn, và gần gũi với đời sống. Trong tiểu thuyết của mình, Hồ Anh Thái không chỉ cường điệu hóa những mâu thuẩn trong cuộc sống mà ông còn sắp xếp đầy dụng ý những mảng màu đối kháng của bức tranh xã hội kỳ lạ đến mức trái hẳn lẽ thường, khó hiểu đầy tinh tế. Đó là cách ông tạo ra những tương phản kỳ quặc giữa cái thiện và cái ác, giữa quá khứ và hiện tại, giữa tình yêu và thù hận, giữa những giá trị truyền thống và tư tưởng ngoại lai. Không khó phát hiện sự tương phản trong sáng tác của nhiều nhà văn. Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ đã tạo tiếng cười sâu cay bằng sự tương phản đối lập giữa các bình diện quan sát, miêu tả. Ông vạch trần bản chất xấu xa của xã hội thượng lưu tư sản thành thị băng hoại đạo đức, khô héo tình người, chạy theo lối sống văn minh rởm, vô cùng đồi bại, lố lăng. Trong Giã biệt bóng tối, nhà văn Tạ Duy Anh với những trang văn miêu tả một hiện thực đen tối, nhầy nhụa, những xấu xa, tàn độc nhưng bên cạnh không gian ngột ngạt, bốc mùi thù hận ấy vẫn le lói những tia hi vọng, mở ra một niềm tin với sự sám hối cùng bóng dáng của thiên thần.

5.1. Tình huống nghịch lý Phản ánh sự phi lý của cuộc sống 57 ký tự

Xây dựng những tình huống nghịch lý là một thủ pháp quan trọng trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Các tình huống này thường vượt ra ngoài những logic thông thường, phản ánh sự phi lýmâu thuẫn của cuộc sống. Qua đó, tác giả muốn thức tỉnh người đọc về những vấn đề nhức nhối của xã hội.

5.2. Lạ hóa biểu tượng Thay đổi góc nhìn về thế giới 52 ký tự

Lạ hóa biểu tượng là thủ pháp mà Hồ Anh Thái sử dụng để thay đổi góc nhìn của người đọc về thế giới. Các biểu tượng quen thuộc được khoác lên những ý nghĩa mới, kỳ quái, và gây bất ngờ. Qua đó, tác giả muốn người đọc suy ngẫm về những giá trịý nghĩa thực sự của cuộc sống.

5.3. Hoàn cảnh hóa ngôn ngữ Tạo tính sinh động và gần gũi 56 ký tự

Hồ Anh Thái sử dụng thủ pháp hoàn cảnh hóa ngôn ngữ để tạo tính sinh độnggần gũi cho tác phẩm. Ngôn ngữ được sử dụng phù hợp với từng hoàn cảnh, từng nhân vật, và từng tình huống. Qua đó, tác giả muốn tạo ra một thế giới nghệ thuật chân thựcsống động, giúp người đọc dễ dàng đồng cảm và thấu hiểu.

VI. Nghệ thuật nghịch dị Đóng góp Giá trị trong văn học 57 Ký tự

Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đã góp phần làm mớiđa dạng hóa văn học Việt Nam đương đại. Nó giúp tác phẩm trở nên sâu sắc, gây ấn tượng, và thức tỉnh lương tri trong lòng người đọc. Tìm hiểu, đánh giá các thủ pháp nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đưa ra những nhận định khách quan về sự sáng tạo thành công của Hồ Anh Thái trong việc vận dụng thủ pháp nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết của nhà văn. Khẳng định sự độc đáo của tiểu thuyết Hồ Anh Thái cũng như tài năng, vai trò, vị trí của ông đối với văn chương.

6.1. Đổi mới và đa dạng hóa văn học Việt Nam đương đại 50 ký tự

Nghệ thuật nghịch dị đã mang đến một luồng gió mới cho văn học Việt Nam đương đại. Nó giúp các tác phẩm trở nên độc đáo, sáng tạo, và phản ánh một cách chân thực hơn về những mâu thuẫnbất cập của xã hội.

6.2. Giá trị tư tưởng và nhân văn sâu sắc của nghệ thuật 55 ký tự

Nghệ thuật nghịch dị không chỉ mang lại những trải nghiệm thẩm mỹ, mà còn chứa đựng những giá trị tư tưởngnhân văn sâu sắc. Nó giúp người đọc suy ngẫm về những vấn đề quan trọng của cuộc sống, và thức tỉnh những giá trị đạo đức trong lòng.

28/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Nghịch dị và tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam đương đại Chương 2: Cảm quan Carnaval và hình tượng nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái Chương 3: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua các thủ pháp biểu hiện 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NGHỊCH DỊ VÀ TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 1. Nghịch dị và nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết 1. Về khái niệm nghịch dị Theo Từ điển văn học, “nghịch dị (tiếng Italia: grottesco; tiếng Pháp: grotesque; còn được dịch là thô kệch hoặc kỳ quặc); là thuật ngữ chỉ một cách tổ chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng, vào tính trào phúng, tính ngụ ngôn, ngụ ý, vào sự kết hợp và tương phản một cách kỳ quặc cái huyễn hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cái bi và cái hài, cái giống thật và cái biếm họa” [30,1053]. Còn theo Từ điển thuật ngữ văn học, “nghịch dị là một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, cái giống như thực với cái biếm họa.

Nghệ thuật nghịch dị là một kiểu ước lệ đặc thù: nó công nhiên và chú ý trình bày một thế giới dị thường, trái tự nhiên, chẳng hạn: “Lỗ mũi thì tám gánh lông - Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho” (Ca dao). Hoặc trong cái mũi của Gogol, cái mũi trên mặt viên tướng Kô-va-lép bỗng nhiên biến mất một cách không sao giải thích được rồi sau lại trở về chỗ cũ và cái việc bất thường ấy dần dà trở thành bình thường đến nỗi có viên quan nọ ngả mũ chào cái mũi của ông ta đang đi dạo trên bờ sông Nê-va…Những thế giới người tí hon và người khổng lồ mà chàng Gu-li-vơ gặp phải cũng là một thế giới nghịch dị. Nghịch dị khác với kì ảo (fantastique) và châm biếm (satire), mặc dù có sự gần gũi và có sử dụng yếu tố này. Kiểu hình tượng nghịch dị vốn có trong thần thoại và trong nghệ thuật cổ sơ của mọi dân tộc, nhưng chỉ trong sáng tác của một số nhà văn cổ đại ở văn học Châu Âu và trong văn học dân gian, nó mới trở thành thủ pháp.

Ở thế kỉ XX, chất nghịch dị trở thành hình thức tiêu biểu của nghệ thuật, kể cả một loại khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa (chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực). Ở kiểu hình tượng nghịch dị hiện đại chủ nghĩa, thế giới quen thuộc với ta bỗng chốc biến thành thế giới thù địch, xa lạ, ở đó ngự trị cái vô nghĩa giống như một sức mạnh siêu 11 nhân không thể hiểu được, một tất yếu vô điều kiện biến con 26 người thành con rối, chất nghịch dị ở đây trở thành nỗi sợ sống, trở thành ý thức về sự phí lí sinh tồn” [24,141-142] Trong thực tế, “Nghịch dị” là kiểu hình tượng đã có từ xa xưa trong các hệ thần thoại, trong cổ ngữ của mọi dân tộc. Đó là hình thức đặc trưng cho văn hóa dân gian, nhất là trong các lễ hội cải trang ở châu Âu trung đại. Nadan Tamarchenco coi Nghịch dị (grotesque) “là một trong những thủ pháp tiếp cận thẩm mĩ đối với hiện thực”.

Bakhtin lại quan niệm nghịch dị là lệch, chống, phá chuẩn, mà chuẩn ở đây là những gì đã trở thành chính thức, chính thống, đã xơ cứng, hoàn kết. Theo đó, ở thời đại Phục Hưng, thuật ngữ nghịch dị xuất hiện lần đầu tiên nhưng lúc đó theo nghĩa hẹp.Bakhtin đã đưa ra mô hình mĩ học nghịch dị và chứng minh một cách thuyết phục qua những sáng tác của Francois Rabelais và nâng lên thành lí thuyết về chủ nghĩa hiện thực nghịch dị mà hạt nhân cơ bản là tiếng cười lưỡng trị trong nền văn hóa trào tiếu dân gian. Ông cho rằng trên thực tế, chính hình tượng nghịch dị giải thoát con người khỏi mọi hình thức của cái tất yếu phi nhân đã ngấm sâu vào những quan niệm chính thống về thế giới. Cái nghịch dị đã hạ uy tín của cái tất yếu, cho thấy nó như một cái tương đối và hữu hạn.

Và, hình tượng nghịch dị thường mang tính nước đôi và mâu thuẫn. Chúng kì dị, quái đản và xấu xí theo quan điểm của mọi thứ mĩ học cổ điển, tức là mĩ học của một sự sinh tồn và hoàn kết. Như vậy, nghịch dị tồn tại từ lâu trong nghệ thuật, đóng vai trò khác nhau trong các nghệ thuật khác nhau. Nói như nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong Từ điển văn học bộ mới thì “trong lịch sử và lí luận văn học, nghịch dị khi thì được xem là thủ pháp của cái hài, khi thì được xem là mức độ sắc sảo của sự châm biếm, khi thì được nhấn mạnh ở tính táo bạo của hình tượng huyễn tưởng” [30,1053].

Nghịch dị cũng là một nguyên tắc miêu tả hiện thực trong đó kết hợp một cách nhân tạo các sự vật thuộc các loại sinh vật khác nhau, phá vỡ sự giống như thật của mô phỏng đời sống, kết hợp những cái không thể kết hợp được. Và vì thế, có thể hiểu nghịch dị là thế giới quan, là nghệ thuật, là thủ pháp, là một kiểu ước lệ đặc thù. Nó công nhiên và chú ý trình bày một thế giới dị thường, trái tự nhiên. Hạt nhân quan trọng nhất của nghệ thuật nghịch dị là tính lưỡng trị, tính nước đôi, tính chưa hoàn kết.

Xét về sự thể hiện đầy đủ bản chất thể hiện khái niệm nghịch dị, chúng tôi chọn khái niệm: Nghịch dị là một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật 12 (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, là sự hòa trộn của cái hài với cái kinh dị, cái giống như thực với cái biếm họa, bình thường và bất thường, lạ lùng, kì quặc. Nghịch dị - một phương thức nghệ thuật quan trọng trong tiểu thuyết Ở thế kỉ XX, nghịch dị trở thành một hình thức tiêu biểu của nghệ thuật. Các motif nghịch dị có mặt trong sáng tác của một loạt nghệ sĩ lớn của thế kỉ XX như Swift, Hoffman, Kaffka, Bungacov, Faulkner v. Thế giới nghịch dị ở họ nói chung không loại trừ nguyên tắc hiện thực (Hóa thân và Vụ án của Kafka, Khi tôi nằm xuống của Faulkner)… vẫn “thiên về tố cáo một chiều nhưng hướng tới sự luận bàn triết lý về những xung đột xã hội và tinh thần của thế kỉ XX” [30,1053].

Nghịch dị là thủ pháp mà nhiều nhà văn phi lí sử dụng và được dòng kịch phi lí đẩy lên thành một thủ pháp chủ đạo. Sự có mặt và tồn tại lâu bền của nghịch dị trong tiến trình phát triển của văn học cũng như giá trị nghệ thuật của nó trong mỗi sáng tác của các nhà văn cho thấy đây là một phương thức quan trọng trong văn học từ cổ chí kim đặc biệt là trong tiểu thuyết. Trải qua các giai đoạn lịch sử, các thời kỳ văn học, nghịch dị với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật đã có nhiều biến đổi, bổ sung, mỗi thời kì có một màu sắc riêng. Ở Việt Nam, thời trung đại, nghịch dị thể hiện ở việc hướng đến việc trình bày những cái đời thường, những hình tượng mà trong văn chương chính thống nhà Nho vốn không đề cập đến vì họ sợ vi phạm vào những chuẩn mực đạo đức và văn phong đã trở thành các quy phạm cổ điển.

Từ đó hướng đến một quan niệm khác, một cái nhìn khác về thế giới, rằng cái mà từ trước tới nay vốn được cho là không trang nghiêm, không chính thống vẫn tồn tại, vẫn luôn khiêu khích và có những lí lẽ tồn tại của riêng nó. Nghịch dị trong thời đại này vì thế mà đối thoại với truyền thống trang nghiêm. Trong văn học hiện đại giai đoạn 1930 – 1945, tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng có thể được coi là những tác phẩm thấm đẫm chất nghịch dị. Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng mang đến những tiếng cười mỉa mai về tình trạng đạo đức giả tạo tồn tại nghiễm nhiên trong những hình thức trang nghiêm.

Ông hướng đến các tầng lớp tinh hoa trong địa vị xã hội nhưng lại rất “rởm đời”. Họ là những người đội mặt nạ, là những biểu hiện lệch lạc và không tương xứng giữa phẩm chất và những chuẩn mực hành vi của con người. Trong văn học Việt Nam đương đại, nhiều nhà văn hướng đến miêu tả thế giới thông qua các hình thức giễu nhại, cười cợt, suồng sã, giáng cấp, vật hóa, sử dụng 13 ngôn ngữ chợ búa, chửi rủa, v. Những yếu tố này có thể tìm thấy trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương (Những đứa trẻ chết già), Tạ Duy Anh (Thiên thần sám hối), Đặng Thân (Những mảnh hồn trần) v.

Nó hướng đến một quan niệm nghệ thuật về bản chất của con người, quan hệ giữa chúng với nhau và với thế giới. Đồng thời hướng đến việc cấp một cái nhìn khác về hiện thực vốn trang nghiêm và đặt nặng các quy chuẩn. Cũng vì thế trong tương quan với những biểu hiện đa dạng của cuộc sống. Nghịch dị hướng đến việc cho con người thấy bản thân mình một cách tự nhiên ở khía cạnh cảm tính sống động.

Nó vừa khai tử một thế giới nào đó, vừa tái sinh và hướng đến đổi mới. Nếu tiểu thuyết được hiểu là “thể loại tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách” [30, 1716]; là “thể loại của tinh thần tự do, vượt ra khỏi sự gò bó của những luật lệ cũ và cho phép sự sáng tạo về hình thức cũng như về chủ đề” [24, 328] thì với tính chất luôn luôn biến đổi, có khả năng phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực, tiểu thuyết là thể loại chính trong tiến trình phát triển văn học đồng chất với thế giới ấy về mọi mặt. Và nghịch dị, khi hiện diện trong tiểu thuyết, nó có sự liên quan đến kiểu, cách thức tổ chức hình tượng nghệ thuật. Nó hướng tới việc biểu hiện một hệ thống các dấu hiệu đặc thù của thế giới thông qua hình tượng nhân vật, qua ngôn ngữ, v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ